Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố với quy mô dân số khoảng 18 triệu người, là nơi sinh sống lâu đời của hơn 1,3 triệu đồng bào dân tộc Khmer. Nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin chuyên biệt và gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người, ngày 01/01/2016, Đài Truyền hình Việt Nam đã chính thức phát sóng kênh truyền hình quốc gia VTV5 Tây Nam Bộ với thời lượng 7 giờ phát sóng tiếng Khmer mỗi ngày. Trong tổng cấu trúc phát sóng, mảng đề tài văn hóa - nghệ thuật chiếm tỷ trọng gần 30%, khẳng định vai trò trụ cột trong việc kết nối đời sống tinh thần của cộng đồng bản địa.

Thực tiễn nghiên cứu chỉ ra rằng, quá trình đô thị hóa cùng sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông số và sự xâm nhập của các kênh truyền hình vệ tinh nước ngoài tự phát tại một số địa phương vùng biên giới đang tạo áp lực lớn lên việc bảo tồn các giá trị di sản cổ truyền. Hơn nữa, đặc điểm tiếp nhận của công chúng Khmer có tính đặc thù cao khi tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức trên 28% và tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên chưa biết chữ phổ thông chiếm khoảng 23,8% theo số liệu thống kê dân số. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá toàn diện hiệu quả tuyên truyền văn hóa trên sóng truyền hình quốc gia.

Mục tiêu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng sản xuất và chất lượng các chương trình bảo tồn văn hóa Khmer trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ trong năm 2018. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính hấp dẫn và định hướng giá trị cho công chúng, góp phần thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer trong tình hình mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết truyền thông đại chúng hiện đại kết hợp lý luận báo chí truyền hình, nhấn mạnh đặc trưng tương tác đa giác quan thông qua sự tích hợp đồng bộ giữa hình ảnh động và âm thanh hiện thực. Phương tiện truyền hình phát huy tối đa ưu thế đối với nhóm công chúng đặc thù có thói quen văn hóa truyền khẩu và tư duy trực quan, giúp xóa bỏ rào cản về chữ viết thông qua ngôn ngữ bản ngữ tiếng Khmer trực tiếp trên sóng.

Nghiên cứu áp dụng lý thuyết bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, xem văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội vừa có tính kế thừa lịch sử vừa có tính biến đổi thích ứng. Hệ thống khái niệm công cụ bao gồm:

  1. Giá trị văn hóa truyền thống Khmer: Hệ thống di sản vật thể và phi vật thể gắn liền với Phật giáo Nam tông, kiến trúc chùa tháp, hệ thống chữ viết Pali - Khmer, kho tàng nghệ thuật sân khấu Rô Băm, Dù Kê và các lễ hội dân gian tiêu biểu như Chool Chhnăm Thmây, Sen Đôn Ta, Ok Om Bok.
  2. Công chúng truyền hình chuyên biệt: Nhóm khán giả người Khmer tại 13 tỉnh Tây Nam Bộ với các đặc điểm riêng về tâm lý tiếp nhận, môi trường cư trú phum sóc và trình độ dân trí.
  3. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trên sóng truyền hình: Hoạt động sáng tạo tác phẩm báo hình nhằm lưu giữ nguyên bản các giá trị cốt lõi, đồng thời quảng bá, lan tỏa di sản vào đời sống đương đại.
  4. Cấu trúc khung chương trình bản ngữ: Sự phân bổ khoa học về thời lượng, thể loại và khung giờ phát sóng tiếng dân tộc nhằm tối ưu hóa khả năng tiếp cận của khán giả.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu khảo sát toàn diện từ toàn bộ các chương trình tiếng Khmer phát sóng trên VTV5 Tây Nam Bộ trong suốt năm 2018. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 365 bản tin thời sự tiếng Khmer (thời lượng 20 phút/số), 24 số chuyên mục Nông thôn đổi mới, 24 số Tạp chí Chính sách và Cuộc sống, 24 số chuyên mục Văn hóa - Giáo dục, 36 số chương trình Lời dạy người xưa, 24 số Kho tàng nghệ thuật, 12 số Ca nhạc tổng hợp, 36 số Ca nhạc thiếu nhi, 12 số Văn học - Nghệ thuật, 6 số Giai điệu quê hương và 2 chương trình đại cảnh sân khấu Bản sắc phum sóc (thời lượng 60 phút/chương trình).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu theo mục đích được áp dụng nhằm bao quát cả 2 nhóm định dạng: chương trình thông tin tổng hợp lồng ghép yếu tố văn hóa và các format văn hóa nghệ thuật độc lập. Phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) và phân tích thông điệp truyền thông được lựa chọn làm công cụ chủ đạo vì cho phép lượng hóa chính xác tỷ trọng đề tài, cấu trúc hình ảnh, chất lượng âm thanh và ngôn ngữ bản ngữ. Ngoài ra, tác giả kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu đối với các chuyên gia quản lý truyền hình tiếng dân tộc, lãnh đạo Ban Dân tộc, Ban Tuyên giáo các tỉnh Kiên Giang, Sóc Trăng và các nghệ nhân, Sư cả tại các chùa Khmer nhằm kiểm chứng tính chuẩn xác của dữ liệu thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện mạo và thời lượng phát sóng chương trình tiếng Khmer đã có bước nhảy vọt lịch sử. Từ một bản tin thử nghiệm 5 phút phát sóng 3 ngày mỗi tuần vào năm 1976 tại Đài Truyền hình Cần Thơ, thời lượng phát sóng đã liên tục tăng trưởng qua các mốc 30 phút năm 1992, 240 phút năm 2004 và đạt mức ổn định 7 giờ mỗi ngày trên kênh chuyên biệt VTV5 Tây Nam Bộ từ năm 2016 đến nay. Trong đó, mảng văn hóa - nghệ thuật chiếm gần 30% tổng thời lượng phát sóng hàng ngày (tương đương khoảng 2,1 giờ/ngày).

Thứ hai, hệ thống format chương trình được chuẩn hóa đa dạng với 11 đầu mũ chương trình riêng biệt và lồng ghép. Các chương trình đã phản ánh sinh động đời sống tín ngưỡng tại hơn 600 ngôi chùa Khmer, bảo tồn các làn điệu dân ca như Aday, Chlay Yam và tôn vinh nghệ thuật sân khấu Rô Băm - loại hình đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1852/QĐ-BVHTTDL.

Thứ ba, sự phân bổ không gian sản xuất còn bộc lộ sự mất cân đối. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ ghi hình tại trường quay đóng kín chiếm khoảng 65% tổng số tiết mục văn nghệ, trong khi các chương trình ngoại cảnh thực tế gắn với không gian phum sóc và lễ hội truyền thống chỉ chiếm khoảng 35%.

Thứ tư, công tác sản xuất đối mặt với thách thức thiếu hụt nguồn nhân lực biên dịch, biên tập có trình độ chuyên sâu về chữ viết Pali và vốn văn hóa cổ truyền, dẫn đến việc chuyển tải một số khái niệm triết lý Phật giáo Nam tông và điển tích sân khấu Dù Kê đôi lúc chưa đạt độ sâu sắc cần thiết.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát có thể được tổng hợp trực quan qua Biểu đồ cơ cấu thời lượng phát sóng tiếng Khmer và Bảng phân loại 11 format chuyên mục định kỳ trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ năm 2018. Số liệu cho thấy nỗ lực vượt bậc của Đài Truyền hình Việt Nam trong việc thực thi Quyết định số 2085/QĐ-TTg và Quyết định số 59/QĐ-TTg về chính sách thông tin vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nguyên nhân tạo nên thành công của kênh là việc gắn kết chặt chẽ nội dung truyền hình với đời sống thực tế của hơn 1,3 triệu cư dân Khmer, khai thác sâu sắc chất liệu từ hệ thống hơn 600 ngôi chùa Nam tông - vốn là trung tâm sinh hoạt tâm linh và cộng đồng phum sóc. Ngược lại, những hạn chế về tỷ lệ ngoại cảnh (35%) và sự đơn điệu trong một số format xuất phát từ rào cản kinh phí sản xuất lưu động, sự thiếu hụt trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng tại các địa bàn vùng sâu và cơ chế xã hội hóa sản xuất truyền hình tiếng dân tộc chưa đủ mạnh.

So với các công trình nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát phạm vi hẹp ở cấp đài phát thanh - truyền hình địa phương như tỉnh An Giang hay Trà Vinh, kết quả nghiên cứu trên sóng VTV5 Tây Nam Bộ đã khẳng định vị thế của một kênh truyền hình quốc gia có hạ tầng kỹ thuật hiện đại, tầm phủ sóng toàn vùng và khả năng bảo tồn văn hóa đồng bộ, có tính hệ thống cao hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đổi mới nội dung và cấu trúc thể hiện tác phẩm: Cơ quan sản xuất cần nâng tỷ lệ ghi hình ngoại cảnh tại các phum sóc từ 35% lên mức trên 50%, giảm bớt sự lệ thuộc vào sân khấu hóa trường quay đóng kín. Tăng cường tổ chức truyền hình trực tiếp 100% các đại lễ quan trọng như Tết Chool Chhnăm Thmây, Lễ hội Sen Đôn Ta và Lễ hội Ok Om Bok. Lộ trình triển khai từ năm 2021 đến 2023, do Phòng Chương trình tiếng Khmer VTV5 Tây Nam Bộ chủ trì thực hiện.
  2. Chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyên môn: Ban Truyền hình Tiếng dân tộc cần định kỳ tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ báo hình chuyên sâu kết hợp đào tạo ngôn ngữ chữ viết Pali - Khmer cho 100% đội ngũ phóng viên, biên tập viên và biên dịch viên. Thiết lập mạng lưới cộng tác viên thường xuyên với các nghệ nhân dân gian, trí thức Khmer và các vị Sư cả tại 13 tỉnh thành. Thời gian thực hiện liên tục giai đoạn 2021-2025.
  3. Hiện đại hóa công nghệ sản xuất và đa dạng hóa nền tảng phân phối số: Đầu tư đồng bộ trang thiết bị ghi hình độ phân giải cao chuẩn 4K phục vụ lưu trữ tư liệu di sản. Xây dựng chuyên mục VTV5 tiếng Khmer trên ứng dụng VTV Go và các nền tảng mạng xã hội, đặt mục tiêu tăng trưởng 40% lượng người xem là thanh niên Khmer tiếp cận qua thiết bị di động trong giai đoạn 2021-2024. Trách nhiệm thuộc về Trung tâm Tin học và Công nghệ truyền hình phối hợp cùng VTV5.
  4. Tối ưu hóa nguồn lực tài chính và đẩy mạnh cơ chế phối hợp liên ngành: Lãnh đạo Đài Truyền hình Việt Nam cần chủ động lồng ghép nguồn kinh phí từ Đề án bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số trị giá 222,9 tỷ đồng và các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm gia tăng 25% đến 30% ngân sách cho các vệt phóng sự điều tra, ký sự văn hóa dài tập. Thời gian thực hiện từ năm 2021 đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Đội ngũ lãnh đạo, biên tập viên, phóng viên tại các cơ quan báo chí truyền hình chuyên biệt: Đặc biệt là nhân sự công tác tại Ban Truyền hình Tiếng dân tộc (VTV5), Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Tây Nam Bộ và các Đài Phát thanh - Truyền hình có phát sóng tiếng Khmer như Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang nhằm nâng cao kỹ năng dàn dựng format văn hóa bản ngữ.
  2. Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc và văn hóa: Cán bộ công tác tại Ban Dân tộc, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cần nguồn số liệu thực tiễn để tham mưu chính sách bảo tồn di sản theo tinh thần Chỉ thị số 19-CT/TW.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Báo chí - Truyền thông: Nguồn tài liệu học thuật giá trị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu các môn học Báo chí truyền hình, Truyền thông đại chúng, Xã hội học báo chí và Báo chí phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số.
  4. Các tổ chức bảo tồn văn hóa, ban quản trị chùa Khmer và các đoàn nghệ thuật dân gian: Sử dụng luận văn làm cơ sở đối chiếu, phối hợp cùng cơ quan truyền hình trong việc cung cấp tư liệu, phục dựng các làn điệu dân ca, tích tuồng Rô Băm, Dù Kê chuẩn xác trước nguy cơ mai một.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao VTV5 Tây Nam Bộ lại dành tới gần 30% thời lượng phát sóng cho mảng văn hóa nghệ thuật Khmer?

Văn hóa nghệ thuật là nhu cầu thưởng thức tinh thần số một của hơn 1,3 triệu đồng bào Khmer, gắn liền mật thiết với tín ngưỡng tại 600 ngôi chùa Nam tông. Dành gần 30% thời lượng phát sóng (hơn 2 giờ/ngày) là phương thức hiệu quả nhất để thu hút công chúng, nâng cao dân trí và truyền tải chính sách nhà nước một cách tự nhiên, gần gũi.

Những loại hình nghệ thuật truyền thống nào của người Khmer được ưu tiên bảo tồn nhiều nhất trên sóng?

Kênh tập trung bảo tồn nghệ thuật múa sân khấu Rô Băm (Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 1852/QĐ-BVHTTDL), sân khấu kịch hát Dù Kê, dàn nhạc ngũ âm và các điệu múa dân gian tiêu biểu như Ram Vong, Lâm Lêv qua các chương trình Kho tàng nghệ thuật và Bản sắc phum sóc.

Trình độ dân trí và tỷ lệ biết chữ ảnh hưởng thế nào đến phương thức truyền tải thông tin của kênh?

Do tỷ lệ người Khmer từ 15 tuổi trở lên không biết chữ phổ thông chiếm khoảng 23,8% và tỷ lệ hộ nghèo trên 28%, VTV5 Tây Nam Bộ ưu tiên triệt để ngôn ngữ tiếng Khmer bản ngữ, hình ảnh động trực quan sinh động và câu từ ngắn gọn, tránh các bài bình luận lý thuyết trừu tượng, khó hiểu.

VTV5 Tây Nam Bộ đã khắc phục hiện tượng cạnh tranh sóng từ các kênh truyền hình nước ngoài tự phát bằng cách nào?

Kênh nâng tổng thời lượng phát sóng lên 7 giờ mỗi ngày, chia đều vào 2 khung giờ vàng (5h30 - 7h30 và 13h30 - 18h30), tập trung sâu vào bản sắc phum sóc bản địa của 13 tỉnh Tây Nam Bộ mà các kênh nước ngoài không có được, qua đó giữ vững thị phần khán giả trung thành.

Việc ghi hình ngoại cảnh tại phum sóc mang lại giá trị khác biệt gì so với ghi hình trường quay?

Ghi hình ngoại cảnh tại phum sóc giúp tái hiện chân thực không gian văn hóa sống động của lễ hội, phản ánh đúng hồn cốt sinh hoạt cộng đồng tại các ngôi chùa cổ kính, loại bỏ cảm giác khiên cưỡng của sân khấu hóa đóng kín (vốn chiếm 65% trong năm 2018), tạo sự tin cậy tuyệt đối cho người xem.

Kết luận

  1. Khẳng định quy mô phát triển vượt bậc: Thời lượng chương trình tiếng Khmer tăng từ 5 phút năm 1976 lên 7 giờ/ngày từ năm 2016, trong đó mảng văn hóa chiếm gần 30% thời lượng phát sóng.
  2. Xây dựng hệ thống format phong phú: Vận hành hiệu quả 11 đầu mũ chương trình chuyên biệt và lồng ghép, phản ánh toàn diện đời sống văn hóa của 1,3 triệu đồng bào Khmer tại Đồng bằng sông Cửu Long.
  3. Nhận diện rõ hạn chế và nguyên nhân: Tỷ lệ sản xuất ngoại cảnh thực địa còn thấp (khoảng 35%) và đội ngũ nhân lực chuyên sâu về ngôn ngữ Pali - Khmer cổ truyền còn mỏng.
  4. Đóng góp lý luận và thực tiễn vững chắc: Bổ sung khung tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số và đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi từ nội dung, nhân lực, công nghệ đến cơ chế tài chính giai đoạn 2021-2025.
  5. Định hướng hành động tiếp nối: Kêu gọi các cơ quan báo chí, nhà quản lý văn hóa và các cấp chính quyền nhanh chóng phối hợp thực hiện số hóa di sản và đẩy mạnh truyền thông đa nền tảng nhằm giữ gìn bền vững kho tàng văn hóa dân tộc Khmer trong kỷ nguyên số.