Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có ba chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về di sản văn hóa truyền thống và vai trò của báo chí trong “bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống” Chƣơng 2: Thực trạng thông tin trên sóng THP của Đài PT&TH Hải Phòng về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống Chƣơng 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả tuyên truyền của Đài PT&TH Hải Phòng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống địa phƣơng. Nội dung của luận văn sẽ đƣợc trình bày theo thứ tự các chƣơng nói trên 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VÀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ TRONG “BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG’ 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa truyền thống 1. Di sản văn hóa Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều quan niệm và định nghĩa về văn hóa và di sản văn hóa.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Đang trong bài Định nghĩa về văn hóa “ Danh từ “ Văn hóa” chúng ta đã mượn ở tiếng Tàu – Người Tầu lấy hai chữ này ở sách cổ_ bộ Kinh Dịch_ để phô diễn một khái niệm mới của Khoa học hiện đại. Cho nên xét theo từ nguyên thì chữ Văn hóa không ngụ được cái ý nghĩa cơ bản là giồng giọt, cầy cấy trong chữ “cultus” của tiếng La- tinh ( tiếng Pháp: culture, tiếng Anh: cultures, tiếng Đức: kultur). Vậy muốn có ý nghĩa xác đáng ta phải công nhận cho chữ “Văn hóa” hiện thời một nghĩa mới nguồn gốc tự Tây Phương” [36, tr 17-19] Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương đã viết ngay ở bài Tựa của cuốn sách “Theo giới thuyết của Felix Sartiaux thì Văn hóa về phương diện động là cuộc phát triển tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng nhau. Về phương diện tĩnh thì văn hóa là trạng thái tiến bộ của những tác dụng ấy ở một thời gian nhất định và tất cả các tính chất mà những tác dụng ấy bầy ra ở xã hội loài người “ [1, tr10] Tiếp đó trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự luận, học giả Đào Duy Anh đã đặt ngay câu hỏi “Văn hóa là gì?” và ông kết luận : “ Văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [1, tr 13] Giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng đƣa ra ý kiến của mình xoay quanh khái niệm văn hóa và di sản văn hóa.
Ông cho rằng: Văn hóa là do con người sáng tạo, có từ thủa bình minh của loài người. Khái niệm này được thay đổi theo thời gian trong quá trình sử dụng. Giáo sư Trần Quốc Vượng đã chọn đưa ra nhận định 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của UNESCO: “ Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá tị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển” [52, tr 72] GS.TSKH Trần Ngọc Thêm lại định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội “[45, Tr10] Phan Ngọc: “ Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là mối quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với tộc người khác, cá nhân khác.
Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” [32,tr 19-20] Nhƣ vậy, có thể đƣa ra định nghĩa cơ bản về Di sản văn hóa nhƣ sau : Di sản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tinh thần do con người tạo ra và được sử dụng phục vụ cho đời sống của con người, từ đó hình thành ,khẳng định các giá trị của chúng về lịch sử, văn hóa, khoa học… Dựa theo quan điểm của UNESCO, Di sản văn hóa đƣợc phân thành hai loại: Di sản văn hóa Vật thể và di sản văn hóa phi vật thể Di sản văn hóa vật thể: bao gồm những vật thể ( hữu hình – Tangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn hóa – xã hội nào đó tạo ra. Đó là những di vật, di tích nhƣ đền đài, cung điện, chùa chiền, lăng mộ, những hiện vật bảo tàng, thƣ tịch, tài liệu lƣu trữ, mẫu vật tự nhiên, thắng cảnh thiên nhiên, và những hiện vật quý hiếm khác Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm những sản phẩm phi hình thể ( vô hình – intangible) có giá trị đặc biệt về các mặt văn hóa, lịch sử do một công đồng văn hóa xã hội nào đó tạo ra. Nó đƣợc lƣu truyền và biến tấu theo các phƣơng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức truyền khẩu, mô phỏng và bắt chƣớc.
Thuộc về di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm có các loại hình văn nghệ dân gian ( âm nhạc, ca múa, sân khấu, truyện kể, huyền thoại, tạp kỹ…), lễ hội, phong tục tập quán, nghệ thuật chữa bệnh dân gian, nghệ thuật nấu ăn, bí quyết trong sản xuất đồ mỹ nghệ các nghệ nhân, danh nhân văn hóa. Di sản văn hóa truyền thống Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc, mỗi quốc gia đều dần hình thành nên những giá trị truyền thống riêng, thể hiện bản sắc, cốt cách của dân tộc mình. Việt Nam vốn đƣợc coi là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử - văn hóa, đó là truyền thống yêu nƣớc, đoàn kết, tƣơng thân tƣơng ái; truyền thống hiếu học, tôn sƣ trọng đạo; truyền thống uống nƣớc nhớ nguồn; các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống. Qua mọi thời đại, những truyền thống ấy không hề bị phai nhạt mà ngày càng đƣợc bổ sung và phát triển, đồng thời đó cũng chính là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, luôn luôn cần đƣợc bảo tồn và phát huy.
Đến nay, có nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra khái niệm về giá trị truyền thống. Trần Văn Giàu, giá trị truyền thống đƣợc hiểu là những cái tốt, bởi vì những cái tốt mới đƣợc hiểu là giá trị. Thậm chí không phải bất cứ cái gì tốt đều đƣợc gọi là giá trị; mà phải là cái tốt cơ bản, phổ biến, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức, cho sự hƣớng dẫn nhận định, đánh giá và dẫn dắt hành động của một dân tộc thì mới mang đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “giá trị truyền thống”. Tác giả Trƣơng Hoài Phƣơng cho rằng: Giá trị truyền thống là tập hợp những nhân tố tích cực, phổ biến về tƣ tƣởng, tình cảm, thói quen, tập quán, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng ngƣời nhất định, đƣợc hình thành và phát triển trong lịch sử, đã trở nên ổn định và lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đối với dân tộc Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm, đã hình thành một hệ giá trị truyền thống. Giá trị truyền thống ấy có mối quan hệ mật thiết với toàn bộ 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đời sống xã hội của dân tộc Việt Nam. Giá trị truyền thống là sự kết tinh tất cả những gì tốt đẹp nhất qua các thời đại lịch sử khác nhau của dân tộc để làm nên bản sắc riêng của dân tộc. Nó đƣợc truyền lại cho thế hệ sau và cùng với thời gian, cùng với sự tiến triển của lịch sử sẽ đƣợc bổ sung bằng các giá trị mới.
Khi nói đến giá trị truyền thống là nói đến những truyền thống nào đã có sự đánh giá, thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọn lọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Khái niệm “Bảo tồn” “ phát huy”; “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống” Trong “Thập kỷ văn hóa” của UNESCO (1988 - 1998), cơ quan văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc đã đƣa ra khuyến nghị, đó là cần “bảo tồn, làm giàu và phát huy ” các giá trị văn hóa truyền thống. Từ thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX, ở Việt Nam, khái niệm bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống đã xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu cũng nhƣ các văn kiện của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam. Hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống có vai trò, vị trí quan trọng trong việc lƣu giữ những giá trị văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của dân tộc.
Đặc biệt, trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống văn hóa - lịch sử ngày càng trở nên cấp thiết, đóng vai trò nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. * Bảo tồn (preservation), theo từ điển Tiếng Việt là “giữ lại không để cho mất đi” Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tƣợng theo dạng thức vốn có của nó, bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái. Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” 2001 GS.TS Trần Ngọc Thêm định nghĩa: Bảo tồn là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tồn tại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, hay nói cách khác bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó.