Luận văn Thạc sĩ: Bảo tồn văn hóa người Dao Thanh Phán và du lịch - Tô Thị Nga

Phân tích phương pháp bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh gắn liền với phát triển du lịch bền vững.

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Tác giả

Tô Thị Nga

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

153
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan bảo tồn văn hóa người Dao Thanh Phán Bình Liêu

Huyện Bình Liêu nằm ở phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh, giáp biên giới Việt - Trung. Đây là vùng đất sinh sống lâu đời của cộng đồng người Dao Thanh Phán. Văn hóa truyền thống của nhóm người Dao này mang đậm bản sắc riêng với nhiều phong tục, lễ hội độc đáo. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh với phát triển du lịch là nhiệm vụ quan trọng. Hoạt động này vừa gìn giữ giá trị di sản vừa tạo động lực kinh tế cho địa phương. Du lịch cộng đồng dựa trên văn hóa bản địa đang trở thành hướng đi tiềm năng. Sự kết hợp giữa bảo tồn và khai thác du lịch giúp đời sống đồng bào được cải thiện. Giá trị văn hóa truyền thống được lan tỏa đến du khách trong và ngoài nước.

1.1. Giới thiệu huyện Bình Liêu và cộng đồng người Dao Thanh Phán

Huyện Bình Liêu được thành lập năm 1919, có diện tích tự nhiên rộng lớn với nhiều dân tộc sinh sống. Cửa khẩu Hoành Mô là cửa khẩu chính giữa Việt Nam và Trung Quốc, tạo tiềm năng phát triển kinh tế biên mậu. Cộng đồng người Dao Thanh Phán cư trú tập trung tại nhiều xã, trong đó có thôn Ngàn Mèo Trên thuộc xã Lục Hồn. Người Dao Thanh Phán giữ gìn nhiều nét văn hóa đặc trưng qua nhiều thế hệ. Phương thức mưu sinh chủ yếu là làm nương rẫy và chăn nuôi. Bản sắc văn hóa được bảo tồn nhờ điều kiện địa lý tương đối tách biệt.

1.2. Mối quan hệ giữa bảo tồn văn hóa truyền thống với phát triển du lịch

Bảo tồn văn hóa truyền thống và phát triển du lịch có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Văn hóa truyền thống là tài nguyên quý giá để xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng. Du lịch tạo nguồn thu nhập, nâng cao ý thức cộng đồng trong việc gìn giữ di sản. Ngược lại, nếu khai thác không hợp lý, du lịch có thể làm mai một giá trị văn hóa bản địa. Cần có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng dân tộc thiểu số. Mục tiêu hướng tới là phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Mô hình du lịch cộng đồng đang được khuyến khích tại Bình Liêu.

II. Thực trạng văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán

Văn hóa phi vật thể của người Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu vô cùng phong phú. Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng đánh dấu trưởng thành của nam giới. Lễ cưới hỏi với nhiều nghi thức truyền thống thể hiện bản sắc dân tộc. Ngày kiêng gió mùng 4 tháng 4 âm lịch là phong tục độc đáo. Cộng đồng kiêng lao động, tụ họp tại chợ phiên giao lưu, hát pả dung đối đáp. Trang phục truyền thống với hoa văn tinh xảo mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc. Tuy nhiên, thực trạng bảo tồn văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán đối mặt nhiều thách thức. Quá trình đô thị hóa và giao thoa văn hóa đang đe dọa các giá trị truyền thống. Giới trẻ có xu hướng rời bỏ bản làng, ít tham gia bảo tồn phong tục tập quán. Nhiều nghề truyền thống và nghi lễ đang có nguy cơ thất truyền.

2.1. Các giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc

Người Dao Thanh Phán sở hữu kho tàng văn hóa phi vật thể đa dạng. Lễ cấp sắc là nghi lễ quan trọng bậc nhất, được tổ chức long trọng với nhiều ngày. Lễ cưới hỏi giữ nguyên nhiều nghi thức cổ truyền như hát đối đáp, rước dâu theo tục lệ. Ngày kiêng gió hay 'kỉn giảo' là phong tục độc đáo riêng có. Vào ngày này, người Dao tụ họp tại chợ phiên, trai gái hò hẹn, hát pả dung giao duyên. Hệ thống chữ viết Nôm Dao và các bài cúng cổ được lưu truyền qua nhiều đời. Những giá trị này là nền tảng để phát triển du lịch văn hóa cộng đồng.

2.2. Thách thức trong công tác bảo tồn hiện nay

Công tác bảo tồn văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán gặp nhiều khó khăn. Nguồn lực đầu tư từ ngân sách còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở thiếu về số lượng và chuyên môn. Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc gìn giữ di sản. Giới trẻ di cư lao động làm đứt gãy truyền thống truyền dạy giữa các thế hệ. Nhiều lễ hội, phong tục đang bị biến dạng hoặc mai một dần. Sự xâm nhập của văn hóa bên ngoài làm thay đổi lối sống truyền thống tại các bản làng.

III. Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa người Dao Thanh Phán

Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống người Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu cần đồng bộ nhiều nhóm biện pháp. Nhóm giải pháp thể chế bao gồm hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc thiểu số. Nhóm giải pháp về nguồn lực tập trung huy động vốn từ ngân sách nhà nước và xã hội hóa. Đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ là yếu tố then chốt để bảo tồn bền vững. Xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa cộng đồng dựa trên các giá trị truyền thống đặc sắc. Ứng dụng công nghệ số trong lưu trữ, quảng bá văn hóa người Dao Thanh Phán. Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa. Phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên tại Bình Liêu.

3.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và huy động nguồn lực

Cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành cơ chế ưu tiên bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số. Sở Văn hóa Thể thao và Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp chặt chẽ. Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bình Liêu đóng vai trò đầu mối triển khai tại cơ sở. Ủy ban nhân dân các xã cần xây dựng kế hoạch bảo tồn cụ thể cho từng thôn bản. Huy động nguồn lực từ chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa. Xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào du lịch văn hóa cộng đồng. Tạo điều kiện cho cộng đồng tự quản tham gia trực tiếp vào quá trình bảo tồn.

3.2. Phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng gắn với văn hóa bản địa

Sản phẩm du lịch cộng đồng tại Bình Liêu cần khai thác thế mạnh văn hóa người Dao Thanh Phán. Tour trải nghiệm lễ cấp sắc, lễ cưới hỏi truyền thống thu hút du khách yêu văn hóa. Du khách được tham gia ngày hội kiêng gió, chợ phiên, nghe hát pả dung. Homestay tại nhà dân giúp du khách trải nghiệm đời sống sinh hoạt thực tế. Trang phục truyền thống, nghề thủ công mỹ nghệ trở thành sản phẩm lưu niệm đặc trưng. Cần xây dựng tiêu chuẩn dịch vụ du lịch cộng đồng đảm bảo chất lượng. Đào tạo hướng dẫn viên bản địa am hiểu văn hóa để thuyết minh cho du khách.

IV. Ứng dụng và triển vọng phát triển du lịch Bình Liêu

Triển vọng phát triển du lịch văn hóa cộng đồng tại huyện Bình Liêu rất khả quan. Vị trí địa lý thuận lợi với cửa khẩu Hoành Mô tạo lợi thế phát triển du lịch biên giới. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ kết hợp văn hóa bản địa đa dạng là sức hút lớn. Mô hình du lịch cộng đồng đã chứng minh hiệu quả tại nhiều địa phương trên cả nước. Người Dao Thanh Phán huyện Bình Liêu có đủ điều kiện để phát triển loại hình du lịch này. Kết quả nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa cung cấp cơ sở khoan học vững chắc. Các giải pháp đề xuất cần được triển khai đồng bộ và có lộ trình rõ ràng. Phát triển du lịch bền vững sẽ góp phần bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống hiệu quả.

4.1. Mô hình du lịch cộng đồng người Dao Thanh Phán

Mô hình du lịch cộng đồng dựa trên văn hóa người Dao Thanh Phán có nhiều ưu điểm. Cộng đồng là chủ thể trực tiếp khai thác và hưởng lợi từ hoạt động du lịch. Du khách được trải nghiệm văn hóa đích thực thay vì sản phẩm thương mại hóa. Mô hình này giúp bảo tồn văn hóa thông qua tạo động lực kinh tế cho cộng đồng. Bình Liêu cần xây dựng thí điểm tại các thôn bản có điều kiện thuận lợi. Kinh nghiệm từ Sapa, Hà Giang áp dụng phù hợp với đặc thù địa phương. Cần có cơ chế giám sát để tránh hiện tượng thương mại hóa quá mức làm mất bản sắc.

4.2. Định hướng phát triển bền vững gắn với bảo tồn

Phát triển du lịch bền vững tại Bình Liêu phải đặt bảo tồn văn hóa lên hàng đầu. Nguyên tắc không đánh đổi di sản lấy lợi nhuận ngắn hạn cần được quán triệt. Quy hoạch du lịch phải tính đến sức chứa của cộng đồng và môi trường tự nhiên. Đào tạo nâng cao nhận thức cho người dân về giá trị di sản văn hóa dân tộc. Xây dựng hệ thống đánh giá tác động của du lịch đến văn hóa truyền thống định kỳ. Hợp tác với UNESCO, ICOMOS trong nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa. Mục tiêu hướng tới là du lịch Bình Liêu phát triển hài hòa, bền vững, giữ gìn bản sắc dân tộc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người dao thanh phán huyện bình liêu tỉnh quảng ninh với phát triển du lịch

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I,Luật du lịch Việt Nam (năm 2005) thì khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng một thời gian nhất định” [22, tr. Như vậy, chúng tôi cho rằngdu lịch có nghĩa là hoạt động của con người nhằm mục đích thăm quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu, giải trí, có mối quan hệ phát sinh qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính 13 quyền và cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình giao tiếp khách du lịch. - Khái niệmdu lịch văn hóa Cuốn sách Giáo trình du lịch văn hóa - Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ(Trần Thúy Anh chủ biên) có trích dẫn khái niệm du lịch của UNWTOnhư sau: Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương [1, tr. Và của ICOMOS: Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích, di chỉ.

Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu và bảo tồn. Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của đồng bào vì những lợi ích văn hóa - kinh tế - xã hội [1, tr. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) đã nêu như sau: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [23, tr. Tóm lại, du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu dựa vào những nét văn hóa truyền thống như không gian văn hóa, kiến trúc nhà cửa, trang phục truyền thống, những phong tục tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống…để tạo sức hút đối với khách du lịch trong nước và quốc tế.

Đối với 14 khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ. Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương, nơi diễn ra nhiều lễ hội văn hóa và các giá trị văn hóa khác. Việc thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng khách mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương. Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống với du lịch Du lịch và cộng đồng dân tộc, được đề cập khá chi tiết trong cuốn giáo trình Nhân học Bức khảm văn hóa châu Á-tiếp cận nhân học.Theo đó, không phải tới bây giờ, mà đã từ khá lâu, khi mà con người với cuộc sống thịnh vượng trong các đô thị họ đã xa rời bản ngã văn hóa của tổ tiên mình.

Bởi thế mà từ giữa thế kỷ trước, các luồng du lịch từ các khu vực phát triển đã có xu hướng truy tìm tính xác thực của văn hóa. Thông thường tính xác thực của văn hóa được lưu giữ tốt trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa.Ngành du lịch đã khai thác những nét văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số, biến chúng thành các sản phẩm du lịch để phục vụ cho du khách. Loại hình du lịch này phát triển không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho người bản địa, mà ở khía cạnh khác nó còn khơi dậy trong người bản địa niềm tự hào về truyền thống văn hóa của cha ông mình nên họ đã tích cực tái phục dựng lại văn hóa để phục vụ du lịch. Theo đó mà các nền văn hóa của người thiểu số vốn đã và đang mai một được tái phục hồi, đem lại ý nghĩa rất tích cực cho công tác bảo tồn văn hóa truyền thống [15, tr.

Loại hình du lịch này đã phát triển ở khắp nơi trên thế giới, ở Việt Nam cũng đã phát triển như Bản Lác, Mai Châu (Hòa Bình)… Ở Bình Liêu (Quảng Ninh), du lịch văn hóa trong khu vực người thiểu số, trong đó có người Dao Thanh Phán cũng đã xuất hiện trong những năm gần đây. 15 Đương nhiên không chỉ mang lại lợi ích mà loại hình du lịch này cũng thường gây nên những tác động tiêu cực, làm mai một văn hóa truyền thống của người bản địa và làm nảy sinh các vấn đề xã hội không mong đợi khác. Nhìn từ góc độ quản lý về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, loại hình du lịch này cần được nghiên cứu để có chiến lược và chính sách quản lý, phát triển phù hợp. Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số chẳng những giữ gìn bảo tồn bản sắc dân tộc mà còn giữ gìn nguồn vốn quý giá cho phát triển du lịch.

Khi ngành du lịch văn hóa phát triển sẽ thu hút du khách đến trải nghiệm văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số, điều này tạo cơ hội kinh tế hỗ trợ lại mức sống của người dân và có điều kiện bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống một cách tốt hơn. Văn bản của Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống với phát triển du lịch 1. Văn bản của Đảng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6-1991) đã xác định nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội [57, tr.

Tư tưởng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được bổ sung, phát triển đầy đủ và phong phú hơn trong các văn kiện của Đảng sau này. Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, hội nghị lần thứ 5 đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là nghị quyết đầu tiên mang tính đường lối, chủ trương, chính sách của 16 Đảng trên lĩnh vực văn hóa, mà còn là tư duy lý luận văn hóa toàn diện và sâu sắc. Nghị quyết nêu lên vấn đề: Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Trong đó, xác định hết sức coi trọng công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể [4, tr. Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số: Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số. Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đối với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình.

Phát hiện, bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học, nghệ thuật là người dân tộc thiểu số. Ưu tiên tài trợ cho các tác giả dân tộc thiểu số có tài năng sáng tạo các tác phẩm về đề tài dân tộc và miền núi. Đào tạo đội ngũ trí thức thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số và tạo điều kiện để trí thức, cán bộ dân tộc thiểu số trở về phục vụ quê hương. Phát huy tài năng các nghệ nhân.

Đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số [4, tr. Tháng 7-2004, Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra “Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới”. Đại hội lần thứ X của Đảng (4-2006) 17 khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội [14, tr. Ngày 9/6/2014, BCH Trung ương Đảng khóa XIđã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.Quan điểm của Nghị quyết khi đề cập đến bảo tồn và phát huy di sản văn hóa xác định: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học [5, tr.

Bên cạnh định hướng về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, Đảng ta còn ban hành nghị quyết về phát triển du lịch nhấn mạnh khai thác văn hóa truyền thống để phát triển du lịch. Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16/01/2017 Về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong đó xác địnhmục tiêu phát triển du lịch: Phát triển du lịch bền vững, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bảo vệ môi trường và thiên nhiên, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Mục tiêu đến năm 2020, ngành du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy kinh tế xã hội, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực [8,tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ