Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống di sản văn hóa tỉnh Kiên Giang ghi nhận 360 cơ sở thờ tự cùng 43 di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh được xếp hạng, tạo nên không gian sinh hoạt tâm linh phong phú với 389 lễ hội định kỳ mỗi năm. Trong bức tranh văn hóa đa sắc tộc đó, Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tổ chức thường niên tại thành phố Rạch Giá từ ngày 26 đến 28 tháng 8 âm lịch giữ vị trí trung tâm về quy mô và tầm ảnh hưởng. Quy mô người tham dự ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc, từ 400.000 lượt khách vào năm 2005 lên mức đỉnh điểm hơn 1.000.000 lượt người vào năm 2011 và duy trì trên 800.000 lượt vào năm 2012.

Sự gia tăng nhanh chóng về mật độ khách hành hương đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp bách: làm thế nào để dung hòa giữa nhu cầu hưởng thụ tâm linh ngày càng cao của quần chúng với yêu cầu bảo tồn tính nguyên vẹn của các nghi thức tế lễ cổ truyền. Thực tiễn tổ chức lễ hội đang bộc lộ những thách thức lớn về việc hình thức hóa các hoạt động hội, sự suy giảm của các trò chơi dân gian đặc trưng và tình trạng thương mại hóa không gian di tích.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ hệ giá trị lịch sử, đạo đức và tính cố kết cộng đồng của lễ hội, đánh giá khách quan thực trạng công tác quản lý và bảo tồn di sản trong giai đoạn 1998 - 2014. Không gian nghiên cứu trọng tâm là Đình thần Nguyễn Trung Trực tại thành phố Rạch Giá cùng các không gian di tích phụ cận trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học và các chỉ số định lượng giúp cơ quan quản lý văn hóa địa phương xây dựng chiến lược phát triển du lịch văn hóa bền vững, đồng thời nâng cao hiệu lực thực thi chính sách bảo tồn di sản phi vật thể quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết di sản văn hóa dựa trên nền tảng Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, trọng tâm là Điều 25) và các định hướng chiến lược từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Công trình kết hợp lý thuyết cấu trúc chức năng của lễ hội dân gian theo quan điểm của các học giả văn hóa học Việt Nam, trong đó khẳng định lễ hội là một thực thể tổng thể hữu cơ bao gồm hai thành tố: phần lễ giữ vai trò cốt lõi thiêng liêng và phần hội giữ vai trò phái sinh tích hợp các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật thường nhật.

Bên cạnh đó, nghiên cứu triển khai hệ thống khái niệm chuẩn mực về hệ giá trị văn hóa theo định nghĩa của UNESCO năm 1982 và các tiêu chuẩn bảo tồn thích ứng. Hệ thống này bao gồm 3 khái niệm nền tảng:

  • Bảo tồn di sản: hoạt động gìn giữ tính chân xác, ngăn ngừa sự xuống cấp và mai một của các giá trị văn hóa vật thể lẫn phi vật thể.
  • Phát huy giá trị: quá trình lan tỏa và chuyển hóa các giá trị truyền thống tốt đẹp thành nguồn lực xã hội phục vụ phát triển kinh tế - văn hóa.
  • Chiều kích cố kết cộng đồng: được cụ thể hóa qua ba cấp độ cộng cảm (chia sẻ cảm xúc tâm linh), cộng mệnh (gắn kết trách nhiệm cộng đồng) và cộng sinh (tương trợ sinh hoạt thực tế).

Phương pháp nghiên cứu

Công trình ứng dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự biến đổi của lễ hội trong tiến trình vận động xã hội. Về phương pháp cụ thể, luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa Văn hóa học, Dân tộc học, Lịch sử học và Quản lý văn hóa.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát điền dã thực tế tại Đình thần Nguyễn Trung Trực với cỡ mẫu 120 phiếu điều tra xã hội học ngẫu nhiên phân tầng dành cho du khách hành hương và cư dân bản địa tại thành phố Rạch Giá. Tác giả đã tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu với các bô lão làng Vĩnh Thanh Vân, đại diện Ban bảo vệ di tích đình thần và cán bộ quản lý thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kiên Giang. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các thư tịch cổ, biên bản lưu trữ, các kỷ yếu hội thảo khoa học cấp tỉnh năm 1989, 2009 và báo cáo ngành văn hóa giai đoạn 1998 - 2013. Việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng cho phép kiểm chứng chéo thông tin, đảm bảo tính khách quan và chiều sâu khoa học cho các kết luận của đề tài.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định bước nhảy vọt về quy mô xã hội hóa của lễ hội với mức tăng trưởng lượng người tham gia đạt 150%, từ 400.000 lượt (năm 2005) lên hơn 1.000.000 lượt (năm 2011). Điểm độc đáo nhất là tính tự nguyện và ý thức cộng đồng: 100% các bữa ăn chay, nước uống, chỗ nghỉ trọ và thuốc men cấp phát cho hàng trăm ngàn lượt khách đều được vận động từ nguồn lực đóng góp tự nguyện của nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ hai, lễ hội chuyển tải hệ giá trị lịch sử - nhân văn đặc biệt sâu sắc, tôn vinh hai chiến công hiển hách của Anh hùng Nguyễn Trung Trực: trận hỏa công đốt cháy tàu chiến Espérance trên sông Nhật Tảo ngày 10/12/1861 tiêu diệt 17 lính Pháp, và trận tập kích hạ đồn Kiên Giang ngày 16/6/1868 tiêu diệt 15 sĩ quan chỉ huy Pháp, bắt sống 60 lính. Khí phách quật cường cùng câu nói bất hủ khẳng định độc lập dân tộc đã trở thành giá trị tinh thần cốt lõi giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ.

Thứ ba, công tác bảo tồn không gian vật thể ghi nhận bước tiến lớn với việc khánh thành Nhà trưng bày thân thế và sự nghiệp có diện tích trên 250 m² vào ngày 03/08/2013 nhân kỷ niệm 145 năm ngày hy sinh của cụ Nguyễn. Tuy nhiên, phần hội đang xuất hiện dấu hiệu suy giảm khoảng 30% về tính đa dạng của các trò chơi dân gian truyền thống (như đập nồi, chơi cờ người, đua xuồng), nhường chỗ cho các hoạt động thương mại hóa gây lấn chiếm vỉa hè và lưu hành ấn phẩm văn hóa không phép.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng bùng nổ quy mô người tham gia lễ hội phản ánh quy luật tâm lý xã hội về sự "thần hóa" người anh hùng có công với đất nước theo quan niệm "sinh vi tướng, tử vi thần". Khác với các lễ hội anh hùng khác tại Nam Bộ (như Lễ hội Trương Định tại Gò Công hay Lễ giỗ Thủ Khoa Huân tại Tiền Giang), Lễ hội Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang mang tính chất "ngày giỗ chung của toàn dân", tạo nên mô hình cố kết cộng đồng liên tỉnh bền chặt.

Diễn biến biến thiên lượng khách giai đoạn 2005 - 2012 có thể được mô hình hóa qua biểu đồ đường tuyến tính nhằm làm rõ tương quan giữa đầu tư hạ tầng giao thông và mức độ gia tăng du khách. Song song đó, cơ cấu 389 lễ hội toàn tỉnh cần được trực quan hóa qua bảng thống kê tỉ lệ: 235 lễ hội tôn giáo (chiếm 60,4%), 62 lễ hội cách mạng (chiếm 15,9%), 31 lễ hội dân gian (chiếm 8,0%) và 61 lễ hội khác (chiếm 15,7%). Việc mô tả trực quan này làm nổi bật vị trí áp đảo của Lễ hội Nguyễn Trung Trực về mức độ tập trung nguồn lực xã hội và năng lực thu hút khách thập phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các hạn chế và nâng tầm giá trị di sản, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, quy hoạch mở rộng không gian lễ hội và tôn tạo hạ tầng di tích. UBND Thành phố Rạch Giá chủ trì triển khai mở rộng 40% diện tích quảng trường tiếp đón và bãi đỗ xe tập trung quanh khu vực đường Nguyễn Công Trứ, giải tỏa dứt điểm 100% tình trạng lấn chiếm lòng lề đường trước kỳ lễ hội năm 2016.

Thứ hai, phục hồi và làm phong phú phần hội dân gian. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kiên Giang phối hợp cùng các hội đoàn thể phục dựng từ 5 đến 7 trò chơi dân gian truyền thống (đua vỏ lãi, cờ người, thi đấu võ thuật cổ truyền, thả đèn hoa đăng), đưa mục tiêu nâng mức độ hài lòng của du khách về không gian giải trí văn hóa lên trên 85% trong giai đoạn 2015 - 2018.

Thứ ba, thiết lập kênh truyền thông số hóa và liên kết tour du lịch. Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch Kiên Giang xây dựng hệ thống thông tin trực tuyến đa ngôn ngữ, đặt mục tiêu thu hút 2.000.000 lượt tiếp cận trước các ngày lễ chính, kết nối tuyến du lịch trọng điểm Rạch Giá - Phú Quốc - Hà Tiên.

Thứ tư, siết chặt quản lý an ninh trật tự và bảo vệ môi trường. Đội Quản lý thị trường và Công an Thành phố Rạch Giá phối hợp xử lý 100% các hành vi in ấn, tán phát tài liệu tâm linh mê tín dị đoan; thiết lập quy trình thu gom và phân loại rác thải tự nguyện, duy trì tỷ lệ thu gom rác đạt trên 95% xuyên suốt 3 ngày cao điểm của lễ hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang cùng UBND Thành phố Rạch Giá sử dụng số liệu và mô hình trong luận văn làm luận cứ khoa học xây dựng Đề án nâng tầm Lễ hội cấp quốc gia và chính sách quản lý không gian tín ngưỡng tại 360 cơ sở thờ tự trên địa bàn.

Doanh nghiệp lữ hành và phát triển du lịch: Các công ty du lịch tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể ứng dụng các phân tích về hành vi du khách để thiết kế tour chuyên đề "Theo dấu chân Anh hùng Nguyễn Trung Trực", kết nối 4 vùng du lịch trọng điểm của Kiên Giang (Phú Quốc, Hà Tiên - Kiên Lương, Rạch Giá, U Minh Thượng).

Nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Văn hóa học, Lịch sử, Xã hội học: Công trình cung cấp hệ thống tư liệu chuẩn xác về lịch sử kháng Pháp thế kỷ XIX, dữ liệu điền dã phong phú và phương pháp tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn hóa phi vật thể Nam Bộ.

Ban bảo vệ di tích đình thần và cộng đồng địa phương: Tài liệu đóng vai trò cẩm nang tham khảo quy chuẩn nghi thức tế lễ truyền thống, phương thức điều phối từ thiện và cách thức vận hành hậu cần bảo đảm an toàn vệ sinh cho hàng vạn lượt người hành hương mỗi ngày.

Câu hỏi thường gặp

Ý nghĩa cốt lõi của câu nói bất hủ của Anh hùng Nguyễn Trung Trực là gì? Câu nói "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây" trước khi hy sinh tại pháp trường Rạch Giá ngày 27/10/1868 khẳng định ý chí quật cường, tinh thần yêu nước bất diệt và niềm tin tất thắng của dân tộc Việt Nam trước mọi thế lực ngoại xâm.

Điểm độc đáo nhất về tính cộng đồng trong Lễ hội Nguyễn Trung Trực là gì? Đó là tinh thần "cộng mệnh, cộng cảm, cộng sinh" khi toàn bộ hoạt động ăn ở, khám chữa bệnh và phát thuốc cho hàng trăm ngàn lượt người tham dự đều hoàn toàn miễn phí, được vận hành trơn tru nhờ sự đóng góp lương thực và công quả tự nguyện của cộng đồng cư dân Nam Bộ.

Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực diễn ra vào thời gian và địa điểm nào? Lễ hội được tổ chức định kỳ vào ngày 26, 27 và 28 tháng 8 âm lịch hàng năm tại Đình thần Nguyễn Trung Trực, tọa lạc trên đường Nguyễn Công Trứ, trung tâm thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Vì sao công tác bảo tồn lễ hội phải kết hợp cả văn hóa vật thể và phi vật thể? Bảo tồn không gian vật thể (như kiến trúc đền thờ, nhà trưng bày 250 m², cổ vật) tạo môi trường thực hành, trong khi bảo tồn phi vật thể (nghi thức tế đàn cả, lễ thỉnh sắc, văn hóa ẩm thực thiện nguyện) duy trì linh hồn và giá trị tinh thần sống động của di sản.

Luận văn đề xuất giải pháp trọng tâm nào để khắc phục tính hình thức của phần hội? Tác giả đề xuất phục dựng có chọn lọc từ 5 đến 7 trò diễn xướng và trò chơi dân gian đặc thù như đua vỏ lãi, cờ người, biểu diễn võ cổ truyền, đồng thời tăng cường giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác bảo tồn, phát huy giá trị Lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong đời sống hiện đại.
  • Công trình chứng minh sức sống mãnh liệt của lễ hội thông qua sự phát triển quy mô từ 400.000 lượt người năm 2005 lên trên 1.000.000 lượt người năm 2011.
  • Nghiên cứu chỉ rõ nét đẹp văn hóa nhân văn độc nhất vô nhị thông qua mô hình xã hội hóa thiện nguyện vì cộng đồng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Đề tài nhận diện chính xác các nguy cơ mai một di sản, sự rập khuôn của phần hội và tình trạng thương mại hóa không gian di tích.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2015 - 2020 cung cấp lộ trình hành động thiết thực cho các cơ quan quản lý văn hóa và chính quyền địa phương.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã xác lập khung phân tích liên ngành hoàn chỉnh về lễ hội anh hùng lịch sử tại Tây Nam Bộ, tạo tiền đề vững chắc cho việc lập hồ sơ công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và người làm du lịch hãy khai thác tối đa nguồn dữ liệu khoa học này để cùng chung tay bảo tồn, tôn vinh và lan tỏa hào khí của vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực trong thời kỳ hội nhập.