Vấn Đề Bảo Tồn và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Vật Thể Được UNESCO Công Nhận Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích ussh vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được unesco công nhận tại việt nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

174
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

3. DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

1.1. Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài

1.2. Các khái niệm về di sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể

1.3. Các khái niệm về di sản trong Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO

1.4. Các khái niệm di sản văn hóa được sử dụng trong Luật di sản văn hóa Việt Nam 2001

1.5. Khái niệm Bảo tồn và phát huy. Khái niệm báo điện tử

1.6. Di sản văn hóa được UNESCO công nhận tại Việt Nam

1.7. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc – UNESCO

1.8. Tiêu chí bình chọn di sản văn hóa vật thể của UNESCO

1.9. Những di sản văn hóa vật thể UNESCO công nhận được lựa chọn khảo sát trong luận văn

1.10. Vai trò của báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam

1.11. Quan hệ truyền thông giữa loại hình báo điện tử với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam

1.12. Ngôn ngữ loại hình của báo điện tử

1.13. Ưu thế về loại hình của báo điện tử trong truyền thông vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam

1.14. Tiểu kết chương 1

2. THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM

2.1. Vài nét về các báo điện tử được khảo sát

2.2. Báo điện tử VnExpress

2.3. Báo điện tử VietNamNet

2.4. Báo điện tử Đất Việt

2.5. Thực trạng truyền thông về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An trên báo điện tử VnExpress, VietNamNet, Đất Việt (từ 01/2014-12/2015)

2.6. Tiêu chí chọn bài báo điện tử khảo sát

2.7. Số lượng bài của 3 báo điện tử về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An (01/2014 - 12/2015)

2.8. Nội dung các bài báo điện tử về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của 2 di sản văn hóa: Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An trên 3 báo điện tử khảo sát

2.9. Hình thức thể hiện tác phẩm báo chí điện tử của VnExpress, VietNamNet, Đất Việt về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị 2 di sản văn hóa: Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An

2.10. Thực trạng truyền thông về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản thiên nhiên: Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trên báo điện tử VnExpress, VietNamNet, Đất Việt (từ 01/2014-12/2015)

2.11. Số lượng bài của 3 báo điện tử về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản thiên nhiên: Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

2.12. Nội dung các bài báo điện tử về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của 2 di sản thiên nhiên: Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trên 3 báo điện tử khảo sát

2.13. Hình thức thể hiện tác phẩm báo chí điện tử của VnExpress, VietNamNet, Đất Việt về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị 2 di sản thiên nhiên: Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

2.14. So sánh thực trạng truyền thông về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị hai di sản văn hóa và hai di sản thiên nhiên trên 3 báo điện tử khảo sát

2.14.1. Về số lượng tác phẩm

2.14.2. Về nội dung

2.14.3. Về hình thức thể hiện

2.15. Đánh giá chung về thực trạng truyền thông vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận trên 3 báo điện tử VietNamNet, VnExpress, Đất Việt

2.15.1. Thành công về nội dung và hình thức

2.15.2. Hạn chế về nội dung và hình thức

2.16. Tiểu kết chương 2

3. BÀI HỌC VÀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ

3.1. Bài học truyền thông rút ra từ vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử

3.2. Mô hình truyền thông về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Vật Thể UNESCO Tại Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có bề dày lịch sử và văn hóa phong phú, với nhiều di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận. Những di sản này không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn là biểu tượng văn hóa của dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản này là nhiệm vụ quan trọng nhằm gìn giữ bản sắc văn hóa và phát triển du lịch bền vững.

1.1. Di sản văn hóa vật thể UNESCO tại Việt Nam

Việt Nam hiện có 17 di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận, bao gồm Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An, và Vịnh Hạ Long. Những di sản này không chỉ có giá trị văn hóa mà còn là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng.

1.2. Ý nghĩa của việc bảo tồn di sản văn hóa

Bảo tồn di sản văn hóa vật thể không chỉ giúp gìn giữ lịch sử mà còn tạo ra cơ hội phát triển kinh tế thông qua du lịch. Điều này cũng góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị văn hóa của di sản.

II. Những Thách Thức Trong Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Vật Thể

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc bảo tồn, nhưng di sản văn hóa vật thể tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Tình trạng ô nhiễm, khai thác du lịch quá mức và thiếu kế hoạch bảo tồn là những vấn đề nghiêm trọng.

2.1. Tình trạng ô nhiễm và khai thác du lịch

Nhiều di sản như Vịnh Hạ Long đang bị đe dọa bởi ô nhiễm môi trường và sự phát triển du lịch không bền vững. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan mà còn làm giảm giá trị văn hóa của di sản.

2.2. Thiếu kế hoạch bảo tồn hiệu quả

Nhiều di sản sau khi được công nhận vẫn không có kế hoạch bảo tồn rõ ràng, dẫn đến tình trạng xuống cấp. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để bảo tồn hiệu quả.

III. Phương Pháp Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Vật Thể

Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Việc kết hợp giữa bảo tồn vật chất và phát huy giá trị văn hóa là rất quan trọng.

3.1. Bảo tồn vật chất và phục hồi di sản

Cần có các biện pháp bảo tồn vật chất cho các di sản, bao gồm việc phục hồi các công trình kiến trúc và bảo vệ các hiện vật văn hóa. Điều này giúp duy trì giá trị lịch sử và văn hóa của di sản.

3.2. Phát huy giá trị văn hóa qua du lịch

Phát triển du lịch bền vững là một trong những cách hiệu quả để phát huy giá trị di sản văn hóa. Cần tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, đồng thời giáo dục cộng đồng về giá trị của di sản.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Vật Thể

Nhiều mô hình bảo tồn di sản văn hóa đã được áp dụng thành công tại Việt Nam. Các dự án cộng đồng và sự tham gia của người dân là rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

4.1. Mô hình cộng đồng trong bảo tồn di sản

Các dự án bảo tồn di sản do cộng đồng thực hiện đã cho thấy hiệu quả cao. Người dân tham gia vào quá trình bảo tồn không chỉ giúp bảo vệ di sản mà còn nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng

Nghiên cứu về di sản văn hóa vật thể đã chỉ ra rằng việc kết hợp giữa bảo tồn và phát huy giá trị có thể tạo ra lợi ích kinh tế cho cộng đồng. Các mô hình này cần được nhân rộng và áp dụng rộng rãi.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Di Sản Văn Hóa Vật Thể Tại Việt Nam

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể UNESCO tại Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Tương lai của các di sản này phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực của toàn xã hội.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn

Việc bảo tồn di sản văn hóa không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là của toàn xã hội. Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc gìn giữ di sản.

5.2. Hướng đi tương lai cho di sản văn hóa

Cần có các chính sách và chiến lược dài hạn để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể. Sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển bền vững sẽ là chìa khóa cho tương lai của di sản.

21/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐƢỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐƢỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM (Khảo sát 4 di sản : Quần thể di tích cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng trên 3 báo điện tử) Chƣơng 3: BÀI HỌC VÀ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐƢỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ ĐƢỢC UNESCO CÔNG NHẬN TẠI VIỆT NAM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1. Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài 1. Các khái niệm về di sản văn hóa và di sản văn hóa vật thể Văn hóa là khái niệm bao quát một phạm vi rộng lớn.

Trong đời sống, khái niệm văn hóa đƣợc sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. Theo thống kê, trên thế giới hiện có gần một nghìn định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy có nhiều cách hiểu với nội dung khác nhau song các khái niệm về văn hóa đều xoay quanh các điểm chính: Văn hóa là các giá trị; Những giá trị đó phải do con ngƣời sáng tạo ra; sự sáng tạo đó là cả một quá trình lịch sử liên tục; những giá trị đó phải làm thành một hệ thống chặt chẽ. Theo cách chia truyền thống, văn hóa có cấu trúc 2 phần rất đơn giản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (hay văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể).

Chính cách cấu trúc này đã dẫn tới việc phân chia các bộ phận khác của văn hóa thành hai dạng: vật chất và tinh thần nhƣ: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.Đây cũng là cách cấu trúc cơ sở để từ đó ngƣời ta tìm ra những cách cấu trúc mới về văn hóa. Song chính sự đơn giản lại là nhƣợc điểm của cách cấu trúc này bởi đôi khi với một hiện tƣợng văn hóa, ngƣời ta khó lòng có thể phân chia rạch ròi cái nào là giá trị vật chất, cái nào là giá trị tinh thần và ngƣợc lại. Cũng giống nhƣ khái niệm văn hóa, hiện có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về di sản văn hóa. Nhà nghiên cứu Lƣu Trần Tiêu cho rằng: Di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất (hay còn gọi là vật thể) và tinh thần (hay còn gọi là phi vật thể), có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, do con ngƣời sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội của mình, đƣợc lƣu truyền từ bthế hệ này sang thế hệ khác [31, tr.

Năm 2001, Việt Nam ban hành Luật Di sản văn hóa (sửa đổi năm 2009) trong đó khẳng định: Di sản văn hóa là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc của nhân dân ta. Tại điều 1: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [23, tr. Thông thƣờng, theo cách nhìn nhận về hình thái tồn tại, di sản văn hóa đƣợc chi thành hai loại: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Tuy có sự phân biệt nhƣng hai loại hình này luôn có mối quan hệ hữu cơ và biện chứng, chúng song song tồn tại và có tác động qua lại lẫn nhau.

Mỗi một di tích do tiền nhân sáng tạo đều liên quan một nhu cầu hoạt động tinh thần nào đó. Cũng có rất nhiều khái niệm về di sản văn hóa vật thể, tuy nhiên đều chung một đánh giá là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con ngƣời dƣới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và thẩm mỹ nhằm phục vụ cuộc sống con ngƣời. Di sản văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lƣợng và đặc điểm của đối tƣợng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con ngƣời biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống con ngƣời. Trong di sản văn hóa vật thể, ngƣời ta sử dụng nhiều kiểu phƣơng tiện: tài nguyên năng lƣợng, dụng cụ lao động, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng sinh sống của con ngƣời, phƣơng tiện giao thông, truyền thông, nhà cửa, công trình xây dựng phục vụ nhu cầu ăn ở, làm việc và giải trí, các phƣơng tiện tiêu khiển, tiêu dùng, mối quan hệ kinh tế.Tóm lại, mọi loại giá trị vật chất đều là kết quả lao động của con ngƣời.

Các khái niệm về di sản trong Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO Tại Công ƣớc quốc tế về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên của thế giới (đã đƣợc thông qua tại kỳ họp thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris ngày 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16/11/1972), có hiệu lực vào năm 1978, đã đƣa ra định nghĩa về di sản văn hóa và di sản thiên nhiên: Di sản văn hoá là: - Các di tích: các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học. - Các quần thể: các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan. - Các thắng cảnh: các công trình của con ngƣời hoặc những công trình của con ngƣời kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng nhƣ các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học. Di sản thiên nhiên là: - Các di tích tự nhiên đƣợc tạo thành bởi những cấu trúc hình thể và sinh vật học hoặc bởi các nhóm cấu trúc nhƣ vậy, có một giá trị đặc biệt về phƣơng diện thẩm mỹ hoặc khoa học.

- Các cấu trúc địa chất học và địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới đã đƣợc xác định là nơi cƣ trú của các giống động vật và thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt, có giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện khoa học bảo tồn. - Các cảnh vật tự nhiên hoặc các khu vực tự nhiên có ranh giới đã đƣợc xác định cụ thể, có giá trị quốc tế đặc biệt về phƣơng diện khoa học, bảo tồn hoặc vẻ đẹp thiên nhiên. Trao đổi với tác giả luận văn, ông Nguyễn Xuân Thắng - Chủ tịch Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam - Tổng thƣ ký Liên hiệp Hội UNESCO thế giới khẳng định: "Công ước quốc tế về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên của Thế giới có hiệu lực vào năm 1978, chỉ có giá trị đối với các di sản văn hóa và thiên nhiên hiện hữu mang tính vật thể. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến cuối thập kỷ 90, các nước quan tâm nhiều đến các giá trị văn hóa tinh thần quý giá đang có nguy cơ bị biến mất (chủ yếu qua đường truyền khẩu, truyền nghề… như nghề thủ công, các làn điệu dân ca, các loại hình nghệ thuật đang bị mai một) và một số bằng chứng mang tính văn hóa và lịch sử đang có nguy cơ bị hư hại (các loại văn bản in lên da, lên giấy, khắc gỗ…).

Năm 2004, UNESCO quyết định đưa khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể vào nội dung Công ước quốc tế Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới. Kèm theo đó công nhận các hình thức xếp hạng khác như “Ký ức thời gian”… Xét về ngôn ngữ thì Di sản văn hóa là bao hàm: di sản hữu hình (vật thể) và phi vật thể. Tiếng Anh dùng từ Tangible và Intangilbe. Khi đã sử dụng khái niệm phi vật thể thì đương nhiên những công trình kiến trúc, các vật chứng văn hóa hiện hữu bằng vật chất đều phải dùng thuật ngữ “vật thể” để phân biệt với di sản phi vật thể.

Tuy văn bản công ước có hiệu lực từ năm 1978, không đưa khái niệm vật thể gắn với tên di sản, nhưng hiện nay cả thế giới đều phải dùng khái niệm này để khỏi lẫn với “phi vật thể”. Có nghĩa, trước năm 2004, khái niệm di sản văn hóa đều là vật thể (là các công trình do bàn tay và khối óc con người làm ra, đo đạc được, có khối lượng và chiếm một không gian nhất định), còn Di sản Văn hóa Phi vật thể là không nhìn thấy được, không đóng khung được. Di sản Văn hóa Phi vật thể có thể là điệu múa, bài ca, sản phẩm truyền thống, nhưng giá trị văn hóa là kinh nghiệm, là tay nghề, là bí quyết phải được truyền dạy, nếu không có sự truyền dạy sẽ bị mất đi. Khi Công ước phải dùng đến ba chữ "phi vật thể" cũng đã là có sự phân định nó với những loại hình khác: "Vật thể" cũng là một nội dung quan trọng của Công ước".

Trong báo cáo của ông Koïchiro Matsuura - Tổng giám đốc UNESCO hiện nay về các hoạt động của tổ chức trong hai năm 2002-2003, ông viết: "Công ước của UNESCO về bảo vệ Di sản Văn Hóa Phi vật thể được nhất trí thông qua vào tháng 10/2003, do đó, bổ sung cho Công ước quốc tế về Bảo vệ Di sản Văn Hóa và 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thiên nhiên năm 1972 về Di sản văn hóa vật thể và Di sản thiên nhiên" [38].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Vật Thể UNESCO Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam. Tài liệu nhấn mạnh các phương pháp và chiến lược cần thiết để bảo vệ những di sản quý giá này, đồng thời chỉ ra những lợi ích mà chúng mang lại cho cộng đồng và nền kinh tế địa phương. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của di sản văn hóa trong việc phát triển du lịch bền vững và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị văn hóa.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể được unesco công nhận tại việt nam trên báo điện tử, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết hơn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn di sản. Ngoài ra, tài liệu Đề tài bảo tồn và phát huy giá trị phế tích kiến trúc pháp tại vườn quốc gia ba vì trong phát triển du lịch sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách bảo tồn di sản kiến trúc trong bối cảnh phát triển du lịch. Cuối cùng, tài liệu Bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc khu phố cổ thành phố nam định sẽ cung cấp thêm thông tin về việc bảo tồn các khu phố cổ, một phần quan trọng trong di sản văn hóa vật thể của Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của việc bảo tồn di sản văn hóa.