Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống di sản văn hóa tỉnh Kiên Giang hiện nay ghi nhận 389 lễ hội truyền thống cùng 360 cơ sở thờ tự và 43 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng. Trong bức tranh văn hóa đa sắc màu đó, lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày hy sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực diễn ra định kỳ vào các ngày 26, 27 và 28 tháng 8 âm lịch tại thành phố Rạch Giá giữ vị trí hạt nhân tiêu biểu. Dữ liệu thực tế cho thấy sự phát triển vượt bậc về quy mô khi số lượng người tham dự đã tăng trưởng gấp đôi, từ 400.000 lượt người vào năm 2005 lên hơn 800.000 lượt người vào năm 2012.

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của du khách thập phương đang đặt ra nhiều áp lực đối với công tác tổ chức và quản lý di sản. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm nằm ở mâu thuẫn giữa nhu cầu hưởng thụ văn hóa tâm linh ngày càng cao với thực trạng không gian di tích bị quá tải, phần hội còn mang tính hình thức, các trò chơi dân gian có nguy cơ mai một và tình trạng thương mại hóa tự phát làm suy giảm tính tôn nghiêm.

Luận văn xác định mục tiêu làm rõ hệ thống giá trị văn hóa, lịch sử và tâm linh của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; đồng thời đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo tồn trong giai đoạn từ năm 1998 đến nay. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại không gian di tích Đền thờ Nguyễn Trung Trực thuộc thành phố Rạch Giá và các địa bàn phụ cận trong tỉnh Kiên Giang. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa lý luận sâu sắc trong việc bổ sung luận cứ khoa học về văn hóa lễ hội Nam Bộ, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp thực tiễn nhằm gia tăng 30% hiệu quả quản lý, bảo tồn nguyên vẹn bản sắc văn hóa và tạo đòn bẩy phát triển du lịch bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Luật Di sản văn hóa. Đề tài vận dụng lý thuyết nhân học văn hóa của các học giả lớn để giải mã cấu trúc lễ hội gồm hai thành tố không thể tách rời: phần lễ giữ vai trò gốc rễ thiêng liêng và phần hội là không gian phái sinh tích hợp các hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian.

Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt công trình gồm:

  • Văn hóa và Di sản văn hóa: Tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng sáng tạo, lưu truyền qua nhiều thế hệ nhằm định hình bản sắc địa phương.
  • Giá trị văn hóa của lễ hội: Hệ thống chuẩn mực định hướng hành vi, thỏa mãn nhu cầu tâm linh, đạo đức và cố kết cộng đồng của cư dân bản địa.
  • Bảo tồn di sản: Hoạt động giữ gìn, bảo vệ các giá trị truyền thống nguyên vẹn khỏi sự biến dạng hoặc mai một trước tác động của thời gian và hiện đại hóa.
  • Phát huy giá trị di sản: Quá trình lan tỏa, nhân rộng các giá trị tốt đẹp của lễ hội vào đời sống đương đại, phục vụ phát triển kinh tế, giáo dục truyền thống yêu nước và quảng bá hình ảnh vùng đất Kiên Giang.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa dạng từ hơn 20 tài liệu thư tịch lịch sử, các công trình nghiên cứu của các tác giả tiền bối, kết hợp dữ liệu thống kê từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kiên Giang giai đoạn 1998 - 2013. Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả triển khai phương pháp điền dã dân tộc học với cỡ mẫu khảo sát là 250 phiếu điều tra bảng hỏi, phân bổ cho 150 người dân địa phương tại thành phố Rạch Giá và 100 khách hành hương ngoài tỉnh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả chủ thể thực hành di sản lẫn đối tượng thụ hưởng văn hóa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu với các thành viên Ban bảo vệ di tích đình Nguyễn Trung Trực, các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương và nghệ nhân dân gian. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích định tính và định lượng nhằm kiểm chứng chéo thông tin, đối chiếu thực trạng quản lý với các quy định pháp luật hiện hành, từ đó rút ra các nhận định khách quan và khoa học nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định tính cố kết cộng đồng tại lễ hội Nguyễn Trung Trực đạt mức độ rất cao thông qua cơ chế tự quản và tinh thần phụng sự xã hội. Toàn bộ hoạt động hậu cần phục vụ hơn 800.000 lượt khách trong 3 ngày diễn ra lễ hội được vận hành nhờ nguồn lực xã hội hóa 100%. Hàng trăm lò nấu cơm chay, các trại cấp phát thuốc đông y miễn phí và điểm nghỉ chân tạm thời đều do nhân dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tự nguyện đóng góp ngày công và hiện vật.

Thứ hai, lễ hội là biểu tượng sống động tái hiện hai chiến công lịch sử vang dội: trận hỏa công đốt cháy tàu Espérance của Pháp trên vàm sông Nhật Tảo ngày 10/12/1861 tiêu diệt 17 lính giặc và trận tập kích chiếm đồn Rạch Giá ngày 16/6/1868 tiêu diệt 15 sĩ quan chỉ huy Pháp. Tinh thần quật cường của cụ Nguyễn Trung Trực với câu nói bất hủ đã trở thành biểu tượng tinh thần bất diệt, thu hút đông đảo người dân hướng về cội nguồn.

Thứ ba, khảo sát thực tế chỉ ra những điểm nghẽn nghiêm trọng trong công tác quản lý: khoảng 65% người được hỏi cho rằng các trò diễn xướng dân gian chưa thực sự phong phú; diện tích đình thờ chính khoảng 120 mét vuông và nhà trưng bày 250 mét vuông thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải nghiêm trọng. Tình trạng buôn bán tự phát lấn chiếm vỉa hè, lòng lề đường xung quanh khuôn viên di tích chiếm tới 30% diện tích giao thông công cộng, gây mất an ninh trật tự và mỹ quan đô thị.

Các số liệu khảo sát và biến động du khách có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện mức tăng trưởng lượng người tham dự từ 400.000 lượt năm 2005 lên 800.000 lượt năm 2012, cùng bảng thống kê cơ cấu đóng góp kinh phí và hiện vật phục vụ công tác thiện nguyện trong lễ hội.

Thảo luận kết quả

Sức sống mãnh liệt của lễ hội Nguyễn Trung Trực xuất phát từ quy luật thiêng hóa và lịch sử hóa nhân vật anh hùng dân tộc trong tâm thức người Việt. Khác với các lễ hội mang tính nghi thức cung đình hay hội làng khép kín ở Bắc Bộ, lễ hội tại Kiên Giang mang đậm tính mở, phóng khoáng của cư dân Nam Bộ, nơi mỗi người dân đi hội như trở về làm giỗ cho chính người thân trong gia đình mình.

So sánh với các nghiên cứu về quản lý lễ hội dân gian của các chuyên gia văn hóa hàng đầu, công trình chỉ ra rằng nếu địa phương chỉ tập trung vào phần lễ trang nghiêm mà xem nhẹ việc đổi mới phần hội thì tính hấp dẫn đối với giới trẻ sẽ giảm sút rõ rệt. Việc cân bằng giữa bảo tồn giá trị gốc và phát triển các sản phẩm du lịch phụ trợ là chìa khóa để phát huy tiềm năng to lớn của vùng đất Kiên Giang, nơi sở hữu khu dự trữ sinh quyển thế giới rộng hơn 1,1 triệu hecta.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch mở rộng không gian văn hóa di tích. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang và Sở Xây dựng cần phê duyệt đề án mở rộng khuôn viên Đình thần Nguyễn Trung Trực, tăng diện tích sân lễ và quảng trường công cộng thêm ít nhất 30% nhằm giảm áp lực quá tải cục bộ, hoàn thành lộ trình quy hoạch trong giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ hai, phục dựng và nâng cấp chất lượng phần hội. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kiên Giang chủ trì phối hợp với Hội Văn nghệ dân gian tái hiện có chọn lọc từ 5 đến 7 trò chơi dân gian truyền thống đặc trưng miền sông nước như đua xuồng ba lá, kéo co, đờn ca tài tử và thi đấu võ thuật dân tộc, triển khai ngay từ mùa lễ hội năm 2024 - 2025.

Thứ ba, tăng cường ứng dụng công nghệ số và quản lý trật tự đô thị. Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá phối hợp với Ban quản lý di tích tiến hành số hóa 100% tư liệu, hiện vật lịch sử tại nhà trưng bày 250 mét vuông; thiết lập hệ thống camera an ninh và kiên quyết xử lý dứt điểm 100% các trường hợp lấn chiếm lòng lề đường, phát hành ấn phẩm mê tín dị đoan trước tháng 8 năm 2025.

Thứ tư, liên kết chuỗi sản phẩm du lịch di sản. Hiệp hội Du lịch tỉnh Kiên Giang kết nối tour du lịch văn hóa tâm linh Rạch Giá - Hà Tiên - Phú Quốc - U Minh Thượng, phấn đấu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách tham dự lễ hội từ 1,2 ngày lên 2,5 ngày vào năm 2026, đóng góp tích cực vào nguồn thu dịch vụ thương mại của tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp quản lý thực tiễn cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá trong việc xây dựng đề án bảo tồn 389 lễ hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Lịch sử Việt Nam và Dân tộc học khi tiếp cận phương pháp nghiên cứu điền dã và giải mã cấu trúc lễ hội truyền thống Nam Bộ.

Nhóm doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ du lịch: Giúp các công ty du lịch nắm bắt đặc điểm tâm lý, hành vi của hơn 800.000 du khách hành hương, từ đó thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa ẩm thực chay và du lịch di sản hiệu quả.

Nhóm ban trị sự đình miếu và cộng đồng thực hành tín ngưỡng: Cung cấp mô hình quản trị lễ hội dựa vào cộng đồng, kinh nghiệm vận động nguồn lực xã hội hóa và phương thức tổ chức hậu cần thiện nguyện quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội Nguyễn Trung Trực có điểm gì khác biệt so với các lễ hội khác ở Nam Bộ? Nét độc đáo nhất là tính cộng đồng tự quản rất cao, thể hiện qua mô hình cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Hơn 800.000 lượt người tham dự đều được phục vụ cơm chay, nước uống và chăm sóc y tế hoàn toàn miễn phí từ nguồn đóng góp tự nguyện của nhân dân.

Khung thời gian và địa điểm diễn ra lễ hội được tổ chức như thế nào? Lễ hội chính thức diễn ra trong 3 ngày, từ ngày 26 đến 28 tháng 8 âm lịch hàng năm tại di tích lịch sử văn hóa Đình thần Nguyễn Trung Trực, tọa lạc trên đường Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát thực tế như thế nào để đảm bảo tính khách quan? Tác giả đã thu thập 250 phiếu điều tra bảng hỏi phân tầng giữa 150 cư dân địa phương và 100 khách thập phương, kết hợp 15 cuộc phỏng vấn sâu các nhà quản lý và nghệ nhân để đối chiếu đa chiều giữa lý thuyết và thực tiễn.

Những khó khăn lớn nhất trong việc bảo tồn lễ hội hiện nay tại Rạch Giá là gì? Khó khăn chủ yếu gồm: thời gian tổ chức ngắn gây quá tải hạ tầng, không gian di tích 120 mét vuông chưa đáp ứng lượng khách đông, phần hội còn hình thức và tình trạng bán hàng rong lấn chiếm 30% vỉa hè xung quanh khu vực đình.

Mô hình xã hội hóa trong lễ hội mang lại lợi ích gì cho địa phương? Mô hình này giúp huy động 100% kinh phí tổ chức từ cộng đồng mà không sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời sau lễ hội toàn bộ lương thực dư thừa được chuyển giao cứu trợ cho các bệnh viện và trung tâm bảo trợ xã hội.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện các giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh của lễ hội Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực với quy mô thu hút hơn 800.000 lượt khách mỗi năm.
  • Công trình chứng minh tính ưu việt của mô hình lễ hội vì cộng đồng, nơi tinh thần đoàn kết và tính thiện nguyện của người dân Nam Bộ được phát huy tối đa.
  • Luận văn chỉ rõ các bất cập trong quản lý không gian đô thị, sự mai một của các trò chơi dân gian và nguy cơ thương mại hóa di tích.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất có tính ứng dụng cao, gắn liền với mốc thời gian hoàn thành cụ thể từ năm 2024 đến năm 2026.
  • Đề tài đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, thúc đẩy sự phát triển kinh tế du lịch bền vững cho thành phố Rạch Giá và tỉnh Kiên Giang.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác trực tiếp các luận cứ và bảng số liệu trong luận văn để áp dụng vào công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương ngay từ hôm nay.