Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁP LUẬT BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 1. Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học và các hình thức bảo tồn đa dạng sinh học 1. Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học 1. Khái niệm đa dạng sinh học Năm 1992, trong một bài báo của tác giả Bruce A.
Wilcox đã định nghĩa: “Đa dạng sinh học là tính đa dạng của các dạng sống ở tất cả cấp độ của hệ thống sinh học (tức ám chỉ phân tử, quần thể, sinh vật, loài và hệ sinh thái. Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”. ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST 1. Theo Công ước ĐDSH năm 1992.thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các HST trên cạn, HST biển, các HST nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận.
ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng HST. Nói cách khác ĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp. Đa dạng sinh học bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần cơ thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người. Nói cách khác, ĐDSH là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa dạng của sự sống ở tất cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp giữa chúng.
Luật ĐDSH của nước ta được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2018), định nghĩa: “Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên”. Trương Hồng Quang (2009), Báo cáo rà soát, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học, Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, tr. 7 Luật cũng định nghĩa: Gen là mô ̣t đơn vi ̣di truyề n , mô ̣t đoa ̣n của vâ ̣t chất di truyề n quy đinh ̣ các đă ̣c tiń h cu ̣ t hể của sinh vâ ̣t. HST là quầ n xã sinh vật và các yế u tố phi sinh vâ ̣t của mô ̣t khu vực điạ lý nhấ t đinh ̣ , có tác động qua la ̣i và trao đổ i vâ ̣t chấ t với nhau.
HST tự nhiên là hê ̣ sinh thái hình thành , phát triển theo quy luật tự nhiên, vẫn còn giữ đươ ̣c các nét hoang sơ. Hê ̣ sinh thái tự nhiên mới là hệ sinh thái mới hình thành và phát triển trên vùng bãi bồi tại cửa sông ven biển, vùng có phù sa bồi đắp và các vùng đất khác2 Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng HST (số lượng các loài trong quần xã), đa dạng loài và đa dạng di truyền (tức là sự phong phú về gen). Đa dạng HST là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng HST. Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó.
Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể. Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học Khoản 1 Điều 3 Luật ĐDSH năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2018) quy định: “Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền”. Bảo tồn ĐDSH là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai. Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn ĐDSH, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp 2.
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật đa dạng sinh học, số 20/2008/ QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008; sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội, Điều 3. 8 quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và HST đó trong tương lai. Các hình thức bảo tồn đa dạng sinh học Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH. Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh.
Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật3. Có hai hình thức bảo tồn ĐDSH phổ biến. đó là: + Bảo tồn tại chỗ là bảo tồ n loài hoang dã trong môi trường sống tự nhiên của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị trong môi trường số ng, nơi hin ̀ h thành và phát triể n các đă ̣c điể m đă ̣c trưng của chúng. Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi.
Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp. + Bảo tồn chuyển chỗ là bảo tồn loài hoang dã ngoài môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa củ a chúng; bảo tồn loài cây trồng , vật nuôi đặc hữu , có giá trị ngoài môi trường số ng , nơi hình thành và phát triể n các đặc điểm đặc trưng của chúng; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền trong các cơ sở khoa ho ̣c và công nghê ̣ hoặ c cơ sở lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền4. Hai hình thức này được thực hiện bời những hình thức cụ thể sau: Một là, khu bảo tồn gồm: a) Vườn quốc gia; b) Khu dự trữ thiên nhiên; c) Khu bảo tồn loài - sinh cảnh; d) Khu bảo vệ cảnh quan. Hai là, cơ sở bảo tồ n đa da ̣ng sinh ho ̣c Ba là, bảo tồn, bảo vệ các loài nguy cấp, quý, hiếm trong tự nhiên Hoặc chia theo: Một là, Bảo tồn theo HST: Thành lập các khu bảo tồn 3.
Phạm Quang Tùng (2012), Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình, Luận án tiến sĩ khoa học môi trường, Đại học Lâm nghiệp, tr. Phạm Quang Tùng (2012), Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình, Luận án tiến sĩ khoa học môi trường, Đại học Lâm nghiệp, tr. 5-6 9 Hai là, Bảo tồn bên ngoài các khu bảo tồn Ba là, Bảo tồn ở cấp độ loài. Ý nghĩa của đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học Đa dạng sinh học là yếu tố quyết định tính ổn định và là cơ sở sinh tồn của sự sống cho trái đất và của các HST tự nhiên.
Bởi vì nó làm cân bằng số lượng cá thể giữa các loài và đảm bảo cho khống chế sinh học cho các loài với cá thể được tiếp nhận trong HST. ĐDSH có những giá trị kinh tế, môi trường, giá trị cuộc sống to lớn.5 Thứ nhất, về mặt môi trường, ĐDSH có giá trị thực tiễn rất cao như làm cho HST nông nghiệp trở nên mềm dẻo hơn trước sự biến động của môi trường, hạn chế sự xói mòn của mặt đất và bờ biển, điều tiết dòng chảy của các con sông, suối. ĐDSH làm cân bằng số lượng cá thể giữa các loài và đảm bảo cho khống chế sinh học cho các loài với cá thể được tiếp nhận trong HST. Đảm bảo cho HST được đảm bảo, sự chu chuyển oxy và các nguyên tố dinh dưỡng khác toàn trái đất.
Chúng giúp cân bằng sự ổn định và sự màu mỡ của đất và các HST khác nói chung trên trái đất. Thứ hai, về kinh tế, ĐDSH ngoài việc cung cấp nguồn nguyên liệu công nghiệp, lương thực thực phẩm, nhiều loại thuốc quý hiếm để bảo vệ cho sức con người. Là nguyên liệu để tạo ra các sản phẩm khác dùng cho gia đình và đóng góp vào việc GDP cho nước ta. Bên cạnh đó còn có thể làm ổn định HST nhờ sự tác động qua lại giữa chúng.
Tại nước ta, đất đai phì nhiêu, màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nước ta phát triển nền nông nghiệp lúa nước lâu năm. Từ đó đem lại nguồn doanh thu hằng năm khá lớn, mang thương hiệu Việt đến nhiều quốc gia trên thế giới. Hoặc việc đa dạng các sản phẩm cây trồng hay vật nuôi sẽ góp phần đáp ứng được đầy đủ những nhu cầu khác nhau của xã hội. ĐDSH còn mang lại những giá trị vật chất khác từ các HST tự nhiên hoặc bán tự nhiên, như là nơi giải trí, du lịch, giáo dục, nghiên cứu,… ĐDSH cũng phản ánh sự phong phú cùng những nét đẹp của thiên nhiên dành cho một quốc gia.com/luan-van-do-an-bao-cao/luat/thuc-trang-phap-luat-da-dang- sinh-hoc-cua-viet-nam- va-phuong-huong-hoan-thien.html, Thực trạng pháp luật đa dạng sinh học của Việt Nam và phương hướng hoàn thiện, truy cập ngày 18/10/2020.
10 Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số không đi cùng với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển, đã đưa đến sự gia tăng các nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên và các quá trình của HST. Nhu cầu về hàng hóa như gỗ, động vật hoang dã, nông, lâm thủy sản đã dẫn đến việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên sinh vật.