lời mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH; - Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; - Chƣơng 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. 8 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 1. Khái quát về bảo tồn đa dạng sinh học 1. Khái niệm đa dạng sinh học Thuật ngữ “đa dang sinh học” đƣợc đƣa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980.
Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lƣợng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "ĐDSH" này. Theo Khoản 5, Điều 3, Luật Đa dạng sinh học 2018: “ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên”.1] Công ƣớc Đa dạng sinh học định nghĩa: “ĐDSH (tiếng Anh: biodiversity) đƣợc định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại dƣơng và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng nhƣ các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó. Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau”.
Định nghĩa của tổ chức FAO (Tổ chức Lƣơng nông Liên hiệp quốc) có sự đồng nhất với định nghĩa của Luật ĐDSH 2008: “ĐDSH là tính đa dạng của sự sống dƣới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái”. ĐDSH là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống, loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất cả sự tập hợp phức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái. ĐDSH đƣợc thể hiện ở ba cấp độ: đa dạng di truyền, đa dạng về loài và đa dạng về hệ sinh thái. 9 Giá trị của ĐDSH là vô cùng to lớn và có thể chia thành hai loại giá trị: giá trị trực tiếp và giá trị gián tiếp.
Giá trị kinh tế trực tiếp của tính ĐDSH là những giá trị của các sản phẩm sinh vật mà đƣợc con ngƣời trực tiếp khai thác và sử dụng cho nhu cầu cuộc sống của mình; còn giá trị gián tiếp bao gồm những cái mà con ngƣời không thể bán, những lợi ích đó bao gồm số lƣợng và chất lƣợng nƣớc, bảo vệ đất, tái tạo, giáo dục, nghiên cứu khoa học, điều hòa khí hậu và cung cấp những phƣơng tiện cho tƣơng lai của xã hội loài ngƣời. Có thể thấy các quan điểm về ĐDSH đều có sự đồng nhất. Nhƣ vậy, có thể định nghĩa chung ĐDSH là sự phong phú về gen, loài và hệ sinh thái trong tự nhiên. Khái niệm bảo tồn đa dạng sinh học Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Đa dạng sinh học 2018: “Bảo tồn đa dạng sinh học là việc bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trƣờng sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trƣờng, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ; lƣu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền”.1] Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con ngƣời với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tƣơng lai.
Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phƣơng pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái đó trong tƣơng lai. 10 Bảo tồn ĐDSH gồm 2 loại: Bảo tồn tại chỗ (bảo tồn loài hoang dã trong môi trƣờng sống tự nhiên của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị trong môi trƣờng sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trƣng của chúng) và bảo tồn chuyển chỗ (bảo tồn loài hoang dã ngoài môi trƣờng sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị ngoài môi trƣờng sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trƣng của chúng; lƣu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền trong các cơ sở khoa học và công nghệ hoặc cơ sở lƣu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền).1] Hai phƣơng thức bảo tồn này có tính chất bổ sung cho nhau. Những cá thể từ các quần thể dƣợc bảo tồn Ex-situ có thể đƣợc đƣa vào thiên nhiên nơi có phân bố tự nhiên của chúng để tăng cƣờng cho các quần thể đang đƣợc bảo tồn In-situ và việc nghiên cứu các quần thể đƣợc bảo tồn Ex-situ có thể cung cấp cho chúng ta những hiểu biết về các đặc tính sinh học của loài và từ đó hỗ trợ cho việc hình thành các chiến lƣợc bảo tồn hiệu quả hơn cho các quần thể đƣợc bảo tồn In-situ. Tuy nhiên, dƣới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điều kiện môi trƣờng, đặc biệt do sự nóng lên toàn cầu, mục tiêu của một chiến lƣợc bảo tồn nguồn gen thực vật là không chỉ bảo tồn các khác biệt di truyền hiện có mà còn tạo ra các điều kiện phù hợp cho việc tăng sự thích nghi và sự tiến hóa tƣơng lai của loài.
Vì vậy, các nhà khoa học bảo tồn đã đề xuất khái niệm bảo tồn nguồn gen động cho thực vật. Điều cốt lõi của khái niệm này là khuyến khích tính thích nghi của loài bằng cách đặt các quần thể bảo tồn trong quá trình chọn lọc tự nhiên và rồi trong quá trình tiến hóa theo các hƣớng khác biệt để đa dạng hóa nguồn gien của loài, chuẩn bị cho việc thích nghi rộng hơn của loài đối với các điều kiện môi trƣờng khác nhau. Theo cách thức bảo tồn này, nguồn gen của các loài thực vật sẽ đƣợc bảo tồn 11 trong một quá trình động thay vì chỉ đƣợc duy trì nhƣ đúng tình trạng di truyền mà chúng vốn có. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học 1.
Khái niệm THPL về bảo tồn đa dạng sinh học Thực hiện pháp luật Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về THPL: cách thứ nhất và cũng là cách hiểu phổ biến nhất, có thể định nghĩa THPL là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức [16,tr. Ngoài ra, THPL còn có thể hiểu là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) đƣợc tiến hành phù hợp với quy định của pháp luật, tức là không trái, không vƣợt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định. THPL có thể là việc thực hiện một thao tác nào đó nhƣng đó cũng có thể là việc không thực hiện thao tác bị pháp luật cấm. Thực hiện pháp luật gồm 04 hình thức thực hiện: (1) Sử dụng pháp luật: các cá nhân, tổ chức sử dụng đúng đắn các quyền của mình, làm những gì mà pháp luật cho phép; (2) Thi hành pháp luật: các cá nhân, tổ chức thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ, chủ động làm những gì mà pháp luật quy định phải làm; (3) Tuân thủ pháp luật: các cá nhân, tổ chức không làm những điều mà pháp luật cấm; (4)Áp dụng pháp luật: các cơ quan, công chức nhà nƣớc có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hoặc thay đổi việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức.159-160] Thực hiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học 12 Từ những khái niệm trên, Tác giả định nghĩa Thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về bảo tồn ĐDSH đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trƣờng sống tự nhiên thƣờng xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, cảnh quan môi trƣờng, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ; lƣu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền.
Đặc điểm THPL về bảo tồn đa dạng sinh học Một là, thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật: Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cƣ xử biểu hiện ra ngoài của chủ thể trong thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH trong hoàn cảnh cụ thể. Hành vi hợp pháp nghĩa là những hành vi mang tính pháp lý phù hợp với các quy định của pháp luật về bảo tồn ĐDSH, cũng có thể hiểu là hành vi làm đúng theo những gì mà pháp luật quy định về bảo tồn ĐDSH. Nhƣ vậy, một chủ thể thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH phải bằng hành vi hợp pháp, có thể là hành vi hành động hoặc không hành động nhƣng phải làm đúng, làm đủ, không trái với những quy định của pháp luật về bảo tồn ĐDSH. Hai là, thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH là hoạt động đƣa các quy phạm pháp luật về bảo tồn ĐDSH đƣợc thực hiện trên thực tế: Hoạt động thực hiện pháp luật về bảo tồn ĐDSH đƣa kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành vào cuộc sống nghĩa là các quy phạm pháp luật về bảo tồn ĐDSH sẽ 13 đƣợc các chủ thể khác nhau thực hiện một cách hợp pháp trong việc bảo tồn ĐDSH ở thực tế đời sống.