Vấn Đề Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế Trong Luật Quốc Tế Hiện Đại

Khám phá luận văn thạc sĩ VNU LS về bảo lưu điều ước quốc tế trong luật quốc tế hiện đại, phân tích và đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

97
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO LƯU ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

1.1. Đặc điểm, cơ sở pháp lý của Bảo lưu điều ước quốc tế

1.2. Đặc điểm của bảo lưu điều ước quốc tế

1.3. Cơ sở pháp lý của bảo lưu điều ước quốc tế

1.4. Một số quy định về bảo lưu điều ước quốc tế

1.5. Điều kiện bảo lưu điều ước quốc tế

1.6. Thủ tục liên quan đến bảo lưu điều ước quốc tế

1.7. Hệ quả của bảo lưu điều ước quốc tế

2. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN BẢO LƯU ĐỐI VỚI MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ ĐA PHƯƠNG

2.1. Bảo lưu đối với quy định của một số điều ước quốc tế

2.2. Bảo lưu đối với quy định của Công ước của Liên hợp quốc về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài (Công ước Newyork năm 1958)

2.3. Bảo lưu đối với quy định của công ước quốc tế về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (Công ước Rome 1961)

2.4. Bảo lưu đối với quy định của công ước quốc tế về các chất hướng thần 1971

2.5. Bảo lưu đối với quy định của Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ 1979

2.6. Bảo lưu đối với quy định của Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (CAT, 1984)

2.7. Nhận xét, đánh giá về bảo lưu điều ước quốc tế trong thực tiễn quan hệ quốc tế

2.8. Một số quy định của điều ước quốc tế thường được bảo lưu

2.9. Tính tích cực và Tính hạn chế của bảo lưu điều ước quốc tế

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO LƯU ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

3.1. Pháp luật Việt Nam về bảo lưu điều ước quốc tế

3.2. Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1989

3.3. Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998

3.4. Quy định về bảo lưu điều ước quốc tế theo Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005

3.5. Thực tiễn bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam

3.6. Một số kiến nghị về bảo lưu điều ước quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.7. Hoàn thiện pháp luật về bảo lưu điều ước quốc tế

3.8. Nâng cao trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong hoạt động bảo lưu điều ước quốc tế

3.9. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung điều ước quốc tế và các vấn đề liên quan đến bảo lưu điều ước quốc tế

3.10. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ký kết, thực hiện điều ước quốc tế và bảo lưu điều ước quốc tế

3.11. Thực hiện công tác thống kê các nội dung của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã bảo lưu

3.12. Tiếp tục nghiên cứu tham gia một số điều ước quan trọng và đề xuất bảo lưu phù hợp

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế Trong Luật Quốc Tế

Bảo lưu điều ước quốc tế là một khái niệm quan trọng trong luật quốc tế hiện đại. Nó cho phép các quốc gia không bị ràng buộc bởi một số điều khoản của điều ước quốc tế mà họ tham gia. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ quyền lợi của các quốc gia khi tham gia vào các hiệp định quốc tế. Việc hiểu rõ về bảo lưu điều ước quốc tế giúp các quốc gia có thể tham gia một cách hiệu quả hơn vào các quan hệ quốc tế.

1.1. Định nghĩa và Ý nghĩa của Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Bảo lưu điều ước quốc tế được định nghĩa là tuyên bố đơn phương của một quốc gia nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc một số điều khoản trong điều ước quốc tế. Điều này cho phép quốc gia đó bảo vệ quyền lợi của mình trong các mối quan hệ quốc tế.

1.2. Lịch sử Phát Triển của Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Chế định bảo lưu đã được hình thành từ thế kỷ XIX và được pháp điển hóa trong các công ước quốc tế. Công ước Viên 1969 và 1986 là hai văn bản quan trọng quy định về bảo lưu điều ước quốc tế, đánh dấu sự phát triển của luật pháp quốc tế.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Mặc dù bảo lưu điều ước quốc tế mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức trong việc thực hiện. Các quốc gia có thể gặp khó khăn trong việc xác định các điều khoản cần bảo lưu và cách thức thực hiện bảo lưu một cách hợp pháp.

2.1. Những Khó Khăn Trong Việc Xác Định Điều Khoản Bảo Lưu

Việc xác định điều khoản nào cần bảo lưu có thể gây khó khăn cho các quốc gia. Điều này đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng về lợi ích và nghĩa vụ của quốc gia trong bối cảnh quốc tế.

2.2. Hệ Quả Pháp Lý Của Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Bảo lưu điều ước quốc tế có thể dẫn đến những hệ quả pháp lý phức tạp. Nếu một quốc gia bảo lưu một điều khoản, điều này có thể ảnh hưởng đến quan hệ với các quốc gia khác và làm giảm hiệu lực của điều ước.

III. Phương Pháp Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế Hiệu Quả

Để bảo lưu điều ước quốc tế một cách hiệu quả, các quốc gia cần áp dụng các phương pháp hợp lý và tuân thủ các quy định pháp luật quốc tế. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của quốc gia mà còn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia khác.

3.1. Quy Trình Thực Hiện Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Quy trình thực hiện bảo lưu điều ước quốc tế bao gồm việc xác định điều khoản cần bảo lưu, soạn thảo tuyên bố bảo lưu và thông báo cho các bên liên quan. Điều này cần được thực hiện một cách chính xác để đảm bảo tính hợp pháp.

3.2. Các Chiến Lược Để Tăng Cường Hiệu Quả Bảo Lưu

Các quốc gia có thể áp dụng nhiều chiến lược khác nhau để tăng cường hiệu quả bảo lưu, bao gồm việc hợp tác với các quốc gia khác, tham gia vào các diễn đàn quốc tế và nâng cao nhận thức về bảo lưu điều ước quốc tế.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Bảo lưu điều ước quốc tế đã được áp dụng trong nhiều trường hợp thực tiễn. Các quốc gia đã sử dụng bảo lưu để bảo vệ quyền lợi của mình trong các hiệp định quốc tế, từ đó tạo ra những tiền lệ quan trọng cho các quốc gia khác.

4.1. Ví Dụ Cụ Thể Về Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Một số quốc gia đã thực hiện bảo lưu trong các điều ước quốc tế quan trọng như Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc. Những ví dụ này cho thấy sự cần thiết của bảo lưu trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia.

4.2. Đánh Giá Tác Động Của Bảo Lưu Đến Quan Hệ Quốc Tế

Bảo lưu điều ước quốc tế có thể ảnh hưởng đến quan hệ giữa các quốc gia. Việc một quốc gia bảo lưu một điều khoản có thể dẫn đến sự phản đối từ các quốc gia khác, từ đó làm thay đổi động lực trong quan hệ quốc tế.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Bảo lưu điều ước quốc tế là một công cụ quan trọng trong luật quốc tế hiện đại. Việc nghiên cứu và áp dụng bảo lưu một cách hiệu quả sẽ giúp các quốc gia bảo vệ quyền lợi của mình trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng gia tăng.

5.1. Tương Lai Của Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế

Trong tương lai, bảo lưu điều ước quốc tế sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ quốc tế. Các quốc gia cần phải cập nhật và điều chỉnh các quy định về bảo lưu để phù hợp với bối cảnh mới.

5.2. Khuyến Nghị Để Nâng Cao Hiệu Quả Bảo Lưu

Cần có những khuyến nghị cụ thể để nâng cao hiệu quả bảo lưu điều ước quốc tế, bao gồm việc tăng cường hợp tác quốc tế và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bảo lưu trong luật quốc tế.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế trong luật quốc tế hiện đại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO LƢU ĐIỀU ƢỚC QUỐC TẾ 1. Đặc điểm, cơ sở pháp lý của Bảo lƣu điều ƣớc quốc tế Quan hệ quốc tế ngày càng phát triển theo hướng vừa đa dạng, vừa cụ thể đã làm phong phú thêm các loại hình văn bản pháp lý quốc tế. Điều ước quốc tế thực sự đã trở nên phổ biến trong sinh hoạt quốc tế, một phương tiện không thể thiếu và được áp dụng rộng rãi trong việc điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia vì lợi ích riêng, chung và vì lợi ích cộng đồng. Điều ước quốc tế là loại nguồn cơ bản của luật quốc tế.

Quá trình tham gia kí kết và trở thành tổ chức thực hiện điều ước quốc tế không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của các chủ thể luật quốc tế. Vì vậy, trong hệ thống pháp luật quốc tế đã có những văn bản quan trọng quy định những vấn đề cơ bản về điều ước quốc tế. Cụ thể là công ước Viên về Luật điều ước quốc tế ngày 23/5/1969 (Công ước này chỉ áp dụng cho những điều ước quốc tế giữa các quốc gia) và Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế (kí tại Viên ngày 21/3/1986). Hàng năm, mỗi quốc gia ký hàng trăm điều ước quốc tế nên việc tuyên bố bảo lưu điều ước quốc tế là việc làm đương nhiên khi điều ước có hiệu lực với họ.

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, bảo lưu của quốc gia khi tham gia ký, phê chuẩn hoặc phê duyệt điều ước quốc tế là công việc vô cùng quan trọng và cần thiết. Bảo lưu là việc tuyên bố đơn phương của quốc gia hoặc tổ chức quốc tế nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc một số điều khoản của điều ước quốc tế đa phương khi áp dụng đối với quốc gia hoặc đối với tổ chức quốc tế [4]. Việc bảo lưu được thể hiện bằng văn bản dưới bất kỳ tên gọi nào khi ký 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kết thông qua văn bản điều ước, phê chuẩn, phê duyệt điều ước quốc tế, hoặc khi gia nhập điều ước quốc tế. Trường hợp bảo lưu liên quan đến kế thừa điều ước quốc tế thì áp dụng theo quy định trong Công ước Viên về kế thừa của các quốc gia đối với các điều ước quốc tế năm 1978.

Từ thế kỷ XIX, chế đinh bảo lưu đã phổ biến trong luật quốc tế, nhưng đến thế kỷ XX, việc pháp điển hóa thành quy phạm thanh văn mới được thực hiện. Trong các hội nghị, hội thảo quốc tế, vấn đề bảo lưu đã được đưa ra thảo luân rất nhiều.Chẳng hạn như tại Hội nghị của các quốc gia châu Mỹ Latinh về luật điều ước năm 1938, các quốc gia tham dự đã bàn luận nhiều về chế định này, đặc biệt là sau khi Ủy ban Luật quốc tế bắt đầu pháp điển hóa luật điều ước. Năm 1951, bảo lưu được ghi nhận trong kết luận tham vấn của Tòa án quốc tế và năm 1952 bảo lưu được ghi nhận trong Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc, trong đó khẳng định rằng: bảo lưu chỉ được áp dụng đối với điều ước quốc tế đa phương. Rất nhiều các vấn đề liên quan đến bảo lưu đã được thảo luận tiếp theo vào các năm sau đó.

Việc bảo lưu được Tòa án quốc tế Liên hợp quốc xem là một chế định trong luật điều ước quốc tế và được ghi nhận trong công ước Viên năm 1969 (Điều 20) đã đánh dấu kết quả hoạt động thực tiễn của Tòa án quốc tế và của Ủy ban Luật quốc tế, đồng thời khẳng định sự phát triển tiến bộ của luật pháp quốc tế [4]. Đặc điểm của bảo lưu điều ước quốc tế Hiện nay, có nhiều quan điểm và thực tiễn áp dụng khác nhau liên quan đến vấn đề bảo lưu tuy nhiên có thể nói Công ước Viên 1969 về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và Công ước Viên 1986 về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế được coi là nguồn pháp luật thành văn chủ yếu của luật quốc tế hiện hành. Tại điểm d, khoản 1, điều 2 Công ước Viên 1969 đã quy định: Bảo lưu dùng để chỉ một tuyên bố đơn phương, bất kể cách viết 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc tên gọi như thế nào, của một quốc gia đưa ra khi ký kết, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập một điều ước, nhằm qua đó loại bỏ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp lý của một số quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó [13, Điều 2]. Từ quy định này, có thể rút ra một số đặc điểm của bảo lưu điều ước quốc tế như sau: - Bảo lưu điều ước quốc tế là một tuyên bố đơn phương Bảo lưu điều ước quốc tế là một tuyên bố đơn phương chứ không phải là một thỏa thuận mang tính song phương hay đa phương.

Bởi vì, với tư cách là chủ thể tham gia vào điều ước quốc tế, khi ký, phê chuẩn, phê duyệt để trở thành thành viên của điều ước quốc tế, các quốc gia có thể đưa ra quan điểm của riêng mình một cách công khai đối với các vấn đề liên quan đến nội dung của điều ước quốc tế. Qua tuyên bố bảo lưu, quốc gia thể hiện quan điểm của mình về việc loại bỏ hoặc sửa đổi hiệu lực của một số quy định của điều ước trong việc áp dụng đối với quốc gia. Ví dụ: Khi gia nhập Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Cu Ba bảo lưu Điều 22 về việc sử dụng Tòa án Quốc tế giải quyết các bất đồng liên quan tới Công ước. - Chủ thể đưa ra bảo lưu là các thành viên của điều ước quốc tế Chủ thể đưa ra bảo lưu điều ước quốc tế phải là thực thể tham gia vào những quan hệ pháp luật quốc tế một cách độc lập, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ quốc tế và có khả năng gánh vác những trách nhiệm pháp lý quốc tế do chính các chủ thể đưa ra khi bảo lưu.

Bảo lưu điều ước quốc tế được tiến hành vào thời điểm quốc gia thực hiện các hành vi xác nhận sự ràng buộc với một điều ước. Do đó, chỉ có các quốc gia thành viên mới có thể đưa ra bảo lưu để việc tham gia điều ước không gây bất lợi cho quốc gia trong quan hệ quốc tế đồng thời phù hợp với hoàn cảnh khách quan cũng như quan điểm, chính sách của quốc gia. Phù hợp với mục đích của việc ký kết điều ước quốc tế và lợi 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ích của các quốc gia thành viên, luật điều ước quốc tế thừa nhận bảo lưu là quyền của các chủ thể khi tham gia ký kết điều ước quốc tế. Việc vận dụng tốt quyền bảo lưu sẽ góp phần giúp các quốc gia thực hiện tốt nghĩa vụ điều ước với tư cách là thành viên của điều ước quốc tế đồng thời bảo đảm được quyền lợi của quốc gia.

- Thời điểm đưa ra bảo lưu điều ước quốc tế Đối với những bảo lưu được quốc gia đưa ra trước thời điểm thực hiện các hành vi ràng buộc với điều ước quốc tế, bảo lưu đươc thực hiện ngay khi đàm phán tại hội nghị hoặc khi soạn thảo, thông qua điều ước. Trong trường hợp này bảo lưu thường được ghi nhận trong biên bản của kỳ họp và được gọi là “bảo lưu trước” hoặc “bảo lưu sơ bộ”. Hành động bảo lưu này chưa làm phát sinh hệ quả pháp lý. Đối với bảo lưu đưa ra trước thời điểm thực hiện các hành vi ràng buộc với điều ước quốc tế sẽ phải được chính thức khẳng định lại khi quốc gia biểu thị sự đồng ý chịu sự ràng buộc của điều ước.

Trong trường hợp này, bảo lưu coi như được đề ra vào ngày mà bảo lưu đó được khẳng định. Ngoài ra, Tuyên bố bảo lưu còn được quốc gia đưa ra khi tiến hành biểu thị sự chấp nhận ràng buộc với một điều ước quốc tế. Phụ thuộc vào quy định của mỗi điều ước quốc tế mà hình thức chấp nhận sự ràng buộc của quốc gia với một điều ước quốc tế có thể là ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập điều ước quốc tế. Như vậy, thời điểm đưa ra bảo lưu điều ước quốc tế có thể là khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập.

- Mục đích của bảo lưu điều ước quốc tế Bảo lưu điều ước quốc tế nhằm loại trừ hay thay đổi hiệu lực của một hay một số điều khoản của điều ước. Thông qua hoạt động bảo lưu mà các quốc gia thể hiện ý chí của riêng mình nhằm loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc một số điều khoản cụ thể của điều ước khi áp dụng và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ những tuyên bố nào làm phát sinh hệ quả pháp lý nêu trên thì mới được ghi nhận là tuyên bố bảo lưu. Bảo lưu không phụ thuộc vào tên gọi hoặc hình thức thể hiện mà phụ thuộc vào nội dung và mục đích của nó. Như vậy, thực chất của hành vi bảo lưu điều ước quốc tế là việc giải thoát cho quốc gia ký kết khỏi nghĩa vụ thực thi một số điều khoản của điều ước do việc thực thi điều khoản đó dẫn tới khả năng gây bất lợi cho quốc gia thành viên.

Bảo lưu được đưa ra dưới hình thức tuyên bố đơn phương, tuy nhiên không phải tuyên bố đơn phương nào của quốc gia khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hay gia nhập điều ước quốc tế đều được coi là bảo lưu điều ước quốc tế. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, tuyên bố đơn phương là một hành vi pháp lý thể hiện quan điểm của riêng quốc gia một cách công khai đối với các vấn đề phát sinh. Như vậy, bảo lưu điều ước quốc tế có những điểm khác với tuyên bố đơn phương của các quốc gia khi trở thành thành viên điều ước quốc tế như sau:  Tuyên bố đơn phương của quốc gia thành viên đưa ra nhằm làm sáng tỏ một thuật ngữ, một quy định nào đó của điều ước quốc tế mà không nhằm loại bỏ hoặc thay đổi hiệu lực pháp lý của một số điều khoản của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia thì không được coi là bảo lưu. Có thể coi đây là các tuyên bố giải thích điều ước quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ