Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO LÃNH 1. Khái quát chung về bảo lãnh 1. Khái niệm bảo lãnh Theo Từ điển Tiếng Việt “Bảo lãnh là bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của một cá nhân hay một tổ chức và chịu trách nhiệm nếu cá nhân hay tổ chức ấy không thực hiện nghĩa vụ” [11, tr. Khái niệm này có tính chất bao hàm chung, được hiểu dưới góc độ ngôn ngữ học thuần túy.
Xuất phát từ ngữ nghĩa cơ bản đó, có thể hiểu bảo lãnh là cách thức mà các chủ thể lựa chọn để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thông qua cam kết của một bên khác, cam kết này ràng buộc trách nhiệm cho một chủ thể khác phải thực hiện và chịu trách nhiệm đối với bên có quyền. Theo Từ điển Luật học “Bảo lãnh là việc là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình” [1]. Về nội dung, có thể thấy từ các khái niệm trên thì bảo lãnh là cam kết thực hiện nghĩa vụ cho một chủ thể khác.
Về tính chất, có thể thấy nội dung khái niệm định nghĩa bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm đối nhân. Tính chất đối nhân của bảo lãnh được hiểu là bên bảo lãnh chấp nhận làm một con nợ dự phòng của nghĩa vụ được bảo đảm, sẵn sàng dùng bất cứ tài sản nào trong khối tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. Khác với bảo đảm đối vật, trong bảo lãnh không xác định cụ thể tài sản nào dùng để bảo đảm mà bảo lãnh là bảo đảm bằng toàn bộ khối tài 11 sản của mình. Quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thường thể hiện dưới các hình thức sau: Thứ nhất, bên bảo đảm cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo đảm) về việc sẽ thực hiện thay nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ (bên được bảo đảm).
Bên bảo đảm trong trường hợp này cam kết bằng uy tín, danh dự, dùng toàn bộ khối tài sản của mình (mà không chỉ rõ là tài sản cụ thể nào) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Trường hợp có sự kiện vi phạm xảy ra, trách nhiệm của bên bảo đảm là phải thực hiện thay nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong phạm vi mà mình đã cam kết với bên có quyền. Đây là trường hợp bảo đảm đối nhân. Thứ hai, bên bảo đảm cam kết dùng tài sản cụ thể của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, điển hình của trường hợp này là thế chấp và cầm cố.
Đây là trường hợp bảo đảm đối vật thuần túy (bảo đảm bằng tài sản). Trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm thì bên có quyền sẽ áp dụng các quy định về thế chấp, cầm cố để xử lý tài sản của bên bảo đảm. Nếu sau khi xử lý tài sản mà vẫn chưa đủ thì bên có quyền phải yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán phần còn thiếu, còn trách nhiệm của bên bảo đảm đã chấm dứt cùng với việc xử lý tài sản nói trên. Thứ ba, bên bảo đảm cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ và bên bảo đảm dùng tài sản cụ thể của mình để đảm bảo cho chính cam kết đó.
Đây là trường hợp kết hợp giữa bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật. Khi nghĩa vụ được bảo đảm bị vi phạm thì bên có quyền được phép xử lý tài sản của bên bảo đảm, nếu sau khi xử lý tài sản mà vẫn chưa đủ thì bên có quyền tiếp tục được yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thay đối với phần còn thiếu trong phạm vi bảo đảm mà bên bảo đảm đã cam kết với bên có quyền. 12 Trong quan hệ bảo lãnh, mặc dù không đưa đối tượng tài sản cụ thể nào để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nhưng khi bên có quyền chấp nhận biện pháp bảo lãnh của bên bảo lãnh thì tức là đã xem xét đến tài chính, tài sản và đánh giá về khả năng thực hiện nghĩa vụ thay của bên bảo lãnh. Bên bảo lãnh cũng có thể đã lường trước việc họ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nếu có phát sinh bằng tất cả tài sản của mình.
Từ khái niệm của bảo lãnh và các hình thức thể hiện tính chất đối nhân, đối vật trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, thông thường bảo lãnh có thể được thực hiện dưới các hình thức sau: Thứ nhất, bên bảo lãnh và bên có quyền có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh sẽ thanh toán cho bên có quyền một số tiền cụ thể trong trường hợp khi đến hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với bên có quyền. Nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ có thể là nghĩa vụ về tài chính hoặc cũng cũng thể là nghĩa vụ khác (nghĩa vụ về tài sản, nghĩa vụ sửa chữa đồ vật,…). Cam kết bảo lãnh trong trường hợp này là cam kết thông thường, bên bảo lãnh dùng toàn bộ tài sản của mình (không xác định là tài sản cụ thể nào) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thay. Vì vậy, nếu bên bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ thì bên có quyền cũng không thể tự ý xử lý tài sản của bên bảo lãnh, thông thường để bắt buộc bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay thì bên có quyền phải khởi kiện bên bảo lãnh ra Tòa án.
Ví dụ: Ông A vay của ông B 100 triệu đồng, khoản vay được ông C bảo lãnh. Đến hạn mà ông B không thanh toán được tiền cho ông A, Ông A yêu cầu ông C phải trả nợ thay cho ông B. Việc trả nợ thay này được ông C thực hiện bằng các tài sản của mình (tiền, vật,.), ông B không cần biết và không có quyền can thiệp về việc ông A sẽ dùng tài sản nào để thực hiện nghĩa vụ thay cho ông B. 13 Thứ hai, trong khái niệm bảo lãnh không xuất hiện yếu tố “tài sản cụ thể”.
Như đã nói ở trên, tính chất đối nhân của bảo lãnh thể hiện ở việc bên bảo lãnh chấp nhận dùng bất cứ tài sản nào trong khối tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. Bên có quyền trên cơ sở đánh giá uy tín, năng lực, tài chính,… của bên bảo lãnh để xem xét chấp nhận hay không chấp nhận bảo lãnh. Nếu bên bảo lãnh đưa một tài sản cụ thể của mình ra để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền thì giao dịch về tài sản đó được xác lập với hình thức khác (thông thường là thế chấp hoặc cầm cố). Tài sản cụ thể đó được dùng để đảm bảo cho chính nghĩa vụ của bên bảo lãnh đối với bên có quyền, không được dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Ví dụ, ông A vay của ông B 100 triệu đồng, khoản vay được ông C bảo lãnh bằng sổ tiết kiệm 80 triệu đồng tại Ngân hàng X. Khi sự kiện vi phạm xảy ra, ông A có quyền yêu cầu ông C thực hiện nghĩa vụ thay cho ông B, nếu ông C không tự giác thực hiện nghĩa vụ thì ông A có quyền xử lý sổ tiết kiệm nói trên để thu hồi nợ cho mình. Trường hợp ông C cam kết bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ của ông A thì sau khi xử lý xong sổ tiết kiệm 80 triệu đồng mà vẫn còn thiếu thì ông B vẫn được quyền yêu cầu ông C tiếp tục thực hiện nghĩa vụ còn thiếu thay cho ông A. Thứ ba, bảo lãnh được thực hiện với hình thức bên bảo lãnh cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện công việc cụ thể thay cho bên có nghĩa vụ, nếu đến thời hạn thực hiện mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Ví dụ, ông A là bên bảo lãnh, cam kết với ông X nếu đến thời hạn mà em trai mình là ông M không giao hàng là 100 giỏ mây thì ông A sẽ giao thay số lượng hàng này mà có thể không cần nhận tiền công hay tiền hàng. Trong quan hệ bảo lãnh, bên bảo lãnh xuất hiện với vai trò như là một 14 con nợ dự bị để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của con nợ chính. Đặc điểm của bảo lãnh Từ khái niệm về bảo lãnh nói trên, có thể thấy bảo lãnh có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, mối quan hệ bảo lãnh có sự phân tách cụ thể giữa quan hệ nghĩa vụ được bảo lãnh (là quan hệ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ, xác lập nên nghĩa vụ được bảo lãnh) và quan hệ bảo lãnh (là mối quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh và người được bảo lãnh). Nếu so sánh với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác được quy định trong BLDS thì chỉ có hai biện pháp là có tính chất đối nhân: bảo lãnh và tín chấp.
Tuy nhiên, đối với tín chấp có thể thấy phạm vi chủ thể của tín chấp đã được xác định cụ thể là tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, đối tượng được tín chấp là cá nhân, hộ gia đình nghèo và bên nhận tín chấp là các tổ chức tín dụng, mục đích của biện pháp tín chấp nhằm đảm bảo cho cá nhân, hộ gia đình nghèo được vay một khoản tiền để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật [30, Đ334]. Còn đối với bảo lãnh, không có hạn chế về các chủ thể trong quan hệ này, có thể là cá nhân, tổ chức, pháp nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Bên bảo lãnh có thể dùng năng lực và tất cả khối tài sản (không xác định cụ thể tài sản nào) của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, ngoài ra bảo lãnh cũng có thể kết hợp đồng thời với các biện pháp bảo đảm khác như thế chấp, cầm cố,… để dùng tài sản thuộc sở hữu của mình bảo đảm thực hiện chính nghĩa vụ bảo lãnh.