Tổng quan nghiên cứu

Bảo lãnh là một trong 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trọng yếu được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, các giao dịch tài chính, thương mại và đầu tư gia tăng nhanh chóng, kéo theo số lượng hợp đồng có sử dụng biện pháp bảo lãnh tăng trưởng khoảng 25% mỗi năm. Tuy nhiên, các tranh chấp phát sinh từ quan hệ bảo lãnh tại hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn 2015 - 2022 chiếm tới khoảng 65% tổng số các vụ việc tranh chấp liên quan đến biện pháp bảo đảm tín dụng. Thực trạng này đặt ra vấn đề cấp bách về sự tương thích giữa quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng.

Chế định bảo lãnh trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn tồn tại những khoảng trống pháp lý đáng kể. Khung điều chỉnh chung của Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ bao gồm 9 điều luật (từ Điều 335 đến Điều 343), quá ngắn gọn so với tính chất phức tạp của quan hệ bảo lãnh ba bên. Mục tiêu của luận văn là làm sáng tỏ bản chất lý luận của bảo lãnh đối nhân, phân tích toàn diện các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 gắn với các văn bản chuyên ngành, đồng thời đánh giá thực tiễn xét xử giai đoạn 2015 - 2022 trên phạm vi toàn quốc.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu giảm thiểu khoảng 20% đến 30% tỷ lệ tranh chấp bảo lãnh vô hiệu, đồng thời rút ngắn 15% thời gian giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại liên quan đến xử lý nghĩa vụ của bên bảo lãnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết bảo đảm đối nhân (personal security theory) trong mối quan hệ so sánh với bảo đảm đối vật (real security theory). Khác với thế chấp hay cầm cố xác lập quyền trực tiếp trên một tài sản cụ thể, bảo lãnh ràng buộc trách nhiệm của bên thứ ba bằng toàn bộ khối tài sản không xác định trước. Luận văn vận dụng lý thuyết nghĩa vụ phụ thuộc (accessory obligation theory) nhằm giải thích mối liên hệ giữa nghĩa vụ chính của bên được bảo lãnh và nghĩa vụ phụ của bên bảo lãnh, làm rõ tính độc lập tương đối của cam kết bảo lãnh.

Mô hình nghiên cứu tập trung vào cấu trúc quan hệ ba bên: bên nhận bảo lãnh (bên có quyền), bên được bảo lãnh (bên có nghĩa vụ) và bên bảo lãnh (bên thứ ba cam kết). Luận văn làm sâu sắc 4 khái niệm pháp lý cốt lõi:

  1. Bản chất đối nhân của quan hệ bảo lãnh theo Khoản 1 Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Quyền tiên tố kháng biện (biệt lợi hậu truy) cho phép bên bảo lãnh yêu cầu xử lý tài sản của bên có nghĩa vụ trước.
  3. Cơ chế thế quyền (subrogation) cho phép bên bảo lãnh kế vị quyền của chủ nợ sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thay.
  4. Tài sản bảo đảm cho chính cam kết bảo lãnh theo quy định tại Điều 295 và Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Quốc triều Hình luật, Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972, Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005, 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, Thông tư số 11/2022/TT-NHNN) kết hợp với 150 bản án và quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2022.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 150 bản án tranh chấp hợp đồng bảo lãnh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có mục đích (purposive sampling) từ Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, đại diện cho 3 khu vực địa lý: miền Bắc (50 bản án), miền Trung (40 bản án) và miền Nam (60 bản án). Phương pháp này giúp tập trung vào các vụ việc có vướng mắc điển hình về xác định trách nhiệm bảo lãnh và xử lý tài sản.

Luận văn kết hợp phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp lịch sử và phương pháp luật học so sánh đối chiếu với 33 điều luật của Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp và 22 điều luật trong Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm tìm ra những hạt nhân hợp lý từ các nền tài phán phát triển, từ đó đề xuất mô hình lập pháp tương thích cho Việt Nam. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành trong mốc thời gian 24 tháng (2022 - 2024).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát quy định pháp luật và 150 bản án thực tiễn đã mang lại 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, quy định về thứ tự yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh tại Điều 335 và Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015 đang tạo ra sự bất bình đẳng lớn. Có tới hơn 70% trường hợp trong thực tế bên bảo lãnh bị bên nhận bảo lãnh khởi kiện đòi nợ trực tiếp ngay khi đến hạn mà không cần chứng minh bên được bảo lãnh đã mất khả năng thanh toán hay chưa.

Thứ hai, việc bỏ quy định bắt buộc hợp đồng bảo lãnh phải lập thành văn bản tại Điều 43 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã làm gia tăng các tranh chấp về hiệu lực thỏa thuận. Thống kê từ mẫu nghiên cứu cho thấy 28% vụ tranh chấp bắt nguồn từ việc các bên chỉ thỏa thuận bảo lãnh qua tin nhắn, thư điện tử hoặc lời nói thiếu căn cứ xác thực phạm vi nghĩa vụ.

Thứ ba, sự lúng túng trong việc phân định giữa bảo lãnh đối nhân và bảo lãnh có bảo đảm bằng tài sản. Khoảng 45% hợp đồng bảo lãnh ngân hàng hiện nay yêu cầu bên bảo lãnh phải thế chấp tài sản cụ thể của mình để bảo đảm cho chính cam kết bảo lãnh. Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng lẫn lộn giữa chế định bảo lãnh và thế chấp tài sản của bên thứ ba.

Thứ tư, quyền lợi của bên bảo lãnh chưa được bảo vệ tương xứng khi 100% các bản án tại Việt Nam không thể áp dụng quyền tiên tố kháng biện do luật thực định không ghi nhận minh thị, khiến bên bảo lãnh luôn phải chịu rủi ro cao hơn so với thông lệ tại các quốc gia như Pháp hay Trung Quốc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trên bắt nguồn từ tư duy lập pháp thiên về bảo vệ tối đa bên nhận bảo lãnh (chủ nợ, tổ chức tín dụng) nhằm đẩy nhanh tốc độ thu hồi nợ và kích thích tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đã phá vỡ thế cân bằng lợi ích hợp pháp giữa các bên tham gia giao dịch. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu chuyên sâu gần đây của giới luật học khi chỉ ra rằng việc thiếu vắng cơ chế giải trừ nghĩa vụ sẽ triệt tiêu động lực bảo lãnh của các tổ chức, cá nhân.

Dữ liệu nghiên cứu thực tiễn có thể được biểu diễn trực quan qua bảng tổng hợp so sánh quy chế bảo lãnh giữa Việt Nam, Pháp và Trung Quốc trên 5 tiêu chí: số lượng quy phạm điều chỉnh, hình thức bắt buộc, quyền tiên tố kháng biện, quyền thế quyền tự động và căn cứ miễn trừ nghĩa vụ. Đồng thời, cấu trúc tranh chấp bảo lãnh thực tế được mô hình hóa qua biểu đồ cơ cấu gồm 3 nhóm nguyên nhân chính: tranh chấp về tư cách chủ thể và thẩm quyền ký kết chiếm 32%, tranh chấp về phạm vi bảo lãnh và lãi suất phạt chiếm 41%, tranh chấp về xử lý tài sản của bên bảo lãnh chiếm 27%. Việc lượng hóa này chứng minh tính cấp thiết của việc tái cấu trúc các điều luật trong Bộ luật Dân sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra 4 nhóm kiến nghị cụ thể:

  1. Bổ sung quy định về quyền tiên tố kháng biện (biệt lợi hậu truy): Quốc hội và Ban soạn thảo Luật sửa đổi Bộ luật Dân sự cần bổ sung 1 điều khoản mới, cho phép bên bảo lãnh có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ nếu bên nhận bảo lãnh chưa tiến hành các biện pháp đòi nợ hoặc chưa xử lý tài sản của bên được bảo lãnh. Mục tiêu là giảm 35% áp lực thực hiện nghĩa vụ thay cho bên bảo lãnh ngay trong giai đoạn 2025 - 2027.

  2. Chuẩn hóa bắt buộc hình thức văn bản đối với giao dịch bảo lãnh: Chính phủ cần sửa đổi Khoản 3 Điều 43 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP trong năm 2025 theo hướng quy định mọi cam kết bảo lãnh bắt buộc phải lập thành văn bản hoặc thông điệp dữ liệu có chứng thư số hợp lệ, nhằm cắt giảm 25% các vụ việc tranh chấp về sự tồn tại của thỏa thuận bảo lãnh.

  3. Hoàn thiện cơ chế tự động thế quyền và bảo đảm quyền hoàn lại: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất quy định tại Điều 340 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong năm 2025, khẳng định bên bảo lãnh sau khi hoàn thành 100% nghĩa vụ thay đương nhiên được hưởng tất cả các biện pháp bảo đảm vật quyền mà chủ nợ đang nắm giữ đối với bên có nghĩa vụ.

  4. Minh định giới hạn trách nhiệm khi hợp đồng chính bị sửa đổi: Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp cần hoàn thiện quy chế, quy định rõ bên bảo lãnh được giải trừ 100% nghĩa vụ nếu bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh tự ý gia hạn thời hạn trả nợ hoặc tăng dư nợ mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên bảo lãnh, áp dụng từ quý II năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn giá trị dành cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Luật sư: Cung cấp hệ thống lập luận vững chắc cùng kinh nghiệm phân tích từ 150 bản án thực tế, hỗ trợ giải quyết chuẩn xác các vụ án tranh chấp hợp đồng bảo lãnh tín dụng phức tạp theo Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Cán bộ pháp chế, quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng: Hướng dẫn chi tiết cách thức xây dựng điều khoản hợp đồng bảo lãnh, kiểm soát rủi ro pháp lý theo Thông tư số 11/2022/TT-NHNN, tối ưu hóa quy trình xử lý tài sản bảo đảm của bên thứ ba.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Luật học: Cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên sâu với hệ thống dữ liệu so sánh pháp luật quốc tế toàn diện giữa Việt Nam, Pháp và Trung Quốc về chế định bảo đảm đối nhân.

  4. Lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà đầu tư: Cẩm nang pháp lý hữu ích giúp nhận diện các bẫy pháp lý khi ký kết thư bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng hoặc cam kết bảo lãnh khoản vay cho các công ty liên kết.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bản chất pháp lý của bảo lãnh theo Bộ luật Dân sự năm 2015 là biện pháp đối nhân hay đối vật? Theo quy định tại Khoản 1 Điều 335 Bộ luật Dân sự năm 2015, bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang bản chất đối nhân thuần túy. Bên bảo lãnh cam kết bằng toàn bộ uy tín và khối tài sản tổng thể của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thay. Việc sử dụng tài sản cụ thể chỉ là biện pháp phụ để bảo đảm cho chính nghĩa vụ bảo lãnh đó.

  2. Hợp đồng bảo lãnh có bắt buộc phải công chứng hoặc lập thành văn bản không? Theo Khoản 3 Điều 43 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, thỏa thuận bảo lãnh có thể lập thành hợp đồng riêng hoặc thư bảo lãnh. Mặc dù luật chung không bắt buộc công chứng, nhưng trong hoạt động cấp tín dụng ngân hàng theo Thông tư số 11/2022/TT-NHNN, cam kết bảo lãnh bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản chặt chẽ để bảo đảm hiệu lực pháp lý.

  3. Bên bảo lãnh có thể yêu cầu chủ nợ xử lý tài sản của người vay trước khi đòi mình không? Pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành chưa quy định quyền tiên tố kháng biện tự động như pháp luật Pháp. Trừ khi các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng, theo Điều 342 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi bên có nghĩa vụ vi phạm thì bên nhận bảo lãnh có quyền trực tiếp yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán ngay.

  4. Sau khi trả nợ thay cho bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu hoàn trả như thế nào? Căn cứ Điều 340 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ hoàn trả 100% giá trị tài sản đã thanh toán thay kèm theo các chi phí hợp lý. Đồng thời, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu tiếp nhận các biện pháp bảo đảm mà chủ nợ ban đầu đang nắm giữ.

  5. Khi hợp đồng chính thay đổi nội dung thì trách nhiệm của bên bảo lãnh thay đổi ra sao? Nếu bên có quyền và bên có nghĩa vụ tự thỏa thuận sửa đổi hợp đồng chính làm gia tăng nghĩa vụ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên bảo lãnh, bên bảo lãnh chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi cam kết ban đầu hoặc được miễn trừ nghĩa vụ đối với phần nghĩa vụ tăng thêm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất đối nhân của chế định bảo lãnh theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Khảo sát toàn diện 150 bản án giai đoạn 2015 - 2022, nhận diện chính xác 4 nhóm vướng mắc thực tiễn về thứ tự thanh toán, hình thức thỏa thuận, cơ chế thế quyền và xử lý tài sản bảo đảm.
  • Cung cấp góc nhìn so sánh luật học sâu sắc với hệ thống pháp luật của Cộng hòa Pháp và Trung Quốc, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc sửa đổi khung pháp lý Việt Nam.
  • Đề xuất 4 giải pháp lập pháp mang tính đột phá với lộ trình triển khai chi tiết từ năm 2025 đến năm 2027, hướng đến thiết lập sự cân bằng quyền lợi giữa các chủ thể.
  • Định hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung mở rộng sang các mô hình bảo lãnh phi truyền thống như bảo lãnh điện tử (e-guarantee) và bảo lãnh xuyên biên giới trong giai đoạn 2025 - 2028. Các nhà nghiên cứu và người hành nghề luật có thể khai thác toàn diện các luận cứ khoa học từ công trình này để phục vụ công tác lập pháp và giải quyết tranh chấp trong thực tiễn.