Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ TÊN THƯƠNG MẠI VÀ CƠ SỞ PHÁP LUẬT BẢO HỘ TÊN THƯƠNG MẠI 1. Tên thương mại và quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 1.1 Khái niệm tên thương mại Tên thương mại là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng có căn cứ phát sinh, xác lập quyền đặc thù. Chính vì vậy, nhiều người còn khá mơ hồ trong việc bảo hộ đối với tên thương mại. Nắm bắt được vấn đề này, thông qua các nội dung dưới đây.
Văn bản pháp luật đầu tiên đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại – đó là Công ước Paris năm 1883. Tên thương mại là khái niệm chính thức được sử dụng lần đầu tiên trong Luật thương mại Việt Nam nhưng chưa được định nghĩa. Từ các quy định tại Điều 24- Luật thương mại 1997 có thể hiểu một cách chung nhất: Tên thương mại là tên giao dịch của thương nhân chủ thể kinh tế hoạt động trong lĩnh vực thương mại, tức là thực hiện các hành vi như: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại, hoạt động xúc tiến thương mại, nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhàm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội. Dưới tên đó thương nhân xuất hiện trong các giao dịch thương mại.
Xét từ góc độ chủ quan: Tên thương mại là quy ước của các chủ thể kinh doanh dùng các từ ngữ để chỉ chính mình trong quan hệ xã hội, phân biệt mình với các chủ thể kinh doanh khác. Xét về bản chất thì tên thương mại là các chữ cái có thể kèm theo chữ số, phát âm được. Tên thương mại có thể gồm thành phần mô tả và thành 7 n phần riêng biệt. Thành phần mô tả phản ánh được những đặc điểm bản chất của một chủ thể kinh doanh như: Loại hình tổ chức doanh nghiệp: Doanh nghiệp tư nhân hay công ty,doanh nghiệp một thành viên hay doanh nghiệp TNHH; cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh, tổ chức kinh doanh.
Lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh: sản xuất hàng hoá hay làm dịch vụ. Đồng thời, để phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác hoạt động trong cùng lĩnh vực, ngành nghề thì các từ ngữ ấy còn phải bao hàm được các yếu tố dấu hiệu riêng biệt như: Tên riêng (tên gọi cá nhân, tên gọi tổ chức, tên chủ sở hữu doanh nghiệp.) Với ý nghĩa là một quy ước để chỉ thực thể độc lập, phân biệt chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác, trên thế giới đang tồn tại hai cách đặt tên thương mại: Thứ nhất: Đặt tên thương mại theo lĩnh vực ngành nghề kinh doanh và sản phẩm dịch vụ đặc trưng của mình ví dụ như: Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Với cách đặt tên này có ưu điểm là cung cấp trực tiếp được thông tin về lĩnh vực hoạt động, hàng hoá, dịch vụ đặc trưng tạo điều kiện cho khách hàng tiện liên hệ và giao dịch. Thứ hai: Đặt tên thương mại dùng các từ ngữ, chữ số mang tính chất biểu trưng, biểu tượng cao ví dụ như: Công ty TNHH MTV Lũng Lô 3.
Với cách đặt tên này không có được ưu điểm như cách đặt tên trên, nhưng cách đặt tên này gây được ấn tượng mạnh, ngắn gọn, dễ nhớ, nhớ lâu khi có điều kiện tiếp xúc qua quảng cáo hay qua giao dịch trực tiếp.2 Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại Có thề hiểu rằng, quyền SHCN đối với tên thương mại là quyền tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân đối với tên thường dùng trong hoạt động kinh doanh. 8 n Đăng ký hoạt động của doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác chỉ có ý nghĩa ghi nhận ý định sử dụng tên gọi của chủ thể đó mà không có ý nghĩa xác lập quyền, Khoản 2 Điều 17 Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết hướng dẫn một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp “Việc đăng ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh không được coi là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là hợp pháp” [4]. Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo quy định của pháp luật Quyền sử dụng: Sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo. Đồng thời, chủ sở hữu tên thương mại có quyền ngăn cấm người khác sử dụng tên thương mại của mình, khi tên thương mại đã được bảo hộ thì chỉ chủ sở hữu mới có quyền sử dụng tên thương mại đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong trường hợp chủ thể khác muốn sử dụng tên thương mại thì phải được sự đồng ý của chủ sở hữu tên thương mại đó thông qua hợp đồng chuyển nhượng bằng văn bản, quy định này nhằm bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo môi trường kinh doanh tự do, thuận lợi và đảm bảo quyền lợi của các chủ thể.
Quyền định đoạt tên thương mại: Pháp luật ghi nhận có nhiều cách thức để chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt của mình đối với tên thương mại. Tuy nhiên, thực hiện quyền khi định đoạt đối với tên thương mại chủ sở hữu cần lưu ý: 9 n Chủ sở hữu công nghiệp có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu của mình cho người khác. Quyền chuyển nhượng cho người khác toàn bộ quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức ký kết hợp đồng bằng văn bản (gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp) phù hợp với quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự, kinh tế. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng tên thương mại có điểm đặc biệt là chủ sở hữu tên thương mại có quyền chuyển nhượng tên thương mại theo hợp đồng cho người khác với điều kiện việc chuyển nhượng phải được tiến hành cùng với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh với tên thương mại đó.
Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa chuyển nhượng quyền sở hữu tên thương mại so với các đối tượng quyền SHCN khác. Về mặt pháp lý là chủ sở hữu tên thương mại có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua việc ký kết hợp đồng bằng văn và việc chuyển nhượng phải được tiến hành cùng với toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh với tên thương mại đó. Ngoài ra do doanh nghiệp bán tên thương mại cùng toàn bộ sản nghiệp thương mại nên mặc nhiên được hiểu là doanh nghiệp cũ sẽ tiếp tục hoạt động với tên đó mà chủ sở hữu mới không phải đăng ký bảo hộ bởi tên thương mại được bảo hộ dựa trên cơ sở sử dụng nên. Chủ sở hữu tên thương mại không có quyền chuyển nhượng tên thương mại của mình cho người khác theo qui định tại Khoản 3 Điều 139 Luật SHTT – trừ trường hợp chuyển nhượng toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh.
Thêm vào đó, theo Khoản 1 Điều 142 Luật SHTT, chủ sở hữu tên thương mại cũng không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng tên thương mại của mình cho người khác [12].3 Mối quan hệ giữa tên thương mại và các đối tượng liên quan Tên thương mại, tên miền, nhãn hiệu là một trong những thành tố góp phần vào sự phát triển và thành công của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Trong hoạt động kinh doanh, tên thương mại có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tượng, do vậy để phát huy hiệu quả các mối quan hệ đó cũng như tránh được những rủi ro, tranh chấp xảy ra, gây thiệt hại trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, cần phải có sự nghiên cứu về các mối quan hệ đó. Mối quan hệ giữa tên thương mại và tên miền Theo Khoản 4 Điều 2 Thông tư 19/2014/TT-BTTTT quy định về quản lý và sử dụng tài nguyên internet định nghĩa về tên miền như sau: “Tên miền là tên được sử dụng để định danh địa chỉ Internet của máy chủ gồm các dãy ký tự cách nhau bởi dấu chấm “. Trong các đối tượng được bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 không có tên miền nhưng thực tế tên miền lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhãn hiệu và tên thương mại.
Tên miền là địa chỉ không gian mạng dùng để truy cập đến địa chỉ của các chủ thể kinh doanh. Có tên miền người sử dụng internet trên toàn thế giới có thể truy cập vào trang web của các chủ thể kinh doanh một cách nhanh nhất, chính xác nhất. Nếu không có một tên miền riêng thì bạn sẽ phải nhớ địa chỉ IP rất dài để truy cập vào giao thức mạng.Vậy nên để dễ nhớ, dễ viết hay để làm tên thương mại trên internet thì có một tên miền là một đều hết sức quan trọng. Để dễ định vị và gây ấn tượng về sản phẩm các chủ thể thường đăng ký tên miền theo tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa hoặc chỉ dẫn địa lý …thuộc sở hữu của họ.
Chính vì những lý do như vậy mặc dù tên miền không nằm trong danh sách được bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ nhưng tên miền là một yếu tố rất quan trọng đối với các chủ thể kinh doanh. 11 n Việc tên miền có ý nghĩa lớn như vậy, thêm việc với nguyên tắc đăng kí trước cho thấy, một cá nhân hay một tổ chức không bị hạn chế tên miền được phép đăng kí nên dẫn tới việc một cá nhân hay một tổ chức có thể chiếm giữ các tên miền tương tự hoặc giống hệt với tên thương mại uy tín trước khi chủ tên thương mại làm việc này. Từ đó xảy ra rất nhiều tranh chấp tên miền là một điều tất yếu và ngày càng tăng về số lượng cũng như tính chất phức tạp về yếu tố pháp lý. Pháp luật SHTT Việt Nam dẫn chiếu tên miền trong quy định về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Vì vậy để tránh xảy ra những trường tranh chấp phức tạp các chủ thể kinh doanh nên nhanh chóng thực hiện việc đăng ký tên miền trong thời gian sớm nhất với tiêu chí tên miền đồng thời là tên thương mại của các chủ thể kinh doanh.