CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM KIẾN TRÚC 1. Một số vấn đề lý luận về quyền tác giả 1. Khái niệm về quyền tác giả Một trong những nội dung quan trọng trước khi tiếp cận khái niệm QTG , đó là phải xem xét khái niệm “tác giả” là gì, trên cơ sở đó mới có thể ghi nhận và bảo hộ các quyền của tác giả. Tác giả, theo quy định của pháp luật hiện hành là “người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học” [Điều 8 NĐ 100/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, LSHTT về QTG và quyền liên quan] Từ định nghĩa trên có thể nhận thấy, xét về nguồn gốc, tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một sản phẩm trí tuệ là “cha sinh, mẹ đẻ” của các tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học.
Khác với các lao động sản xuất đơn thuần khác, đặc trưng của lao động trí óc này là tạo ra sản phẩm trí tuệ và thể hiện nó một cách hữu hình. Một người được coi là tác giả của một tác phẩm khi tác phẩm đó được hình thành dưới một hình thức vật chất nhất định và phải “có tính sáng tạo”, và được người này “sáng tạo trực tiếp”, có thể hiểu tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một tác phẩm trí tuệ và thể hiện nó dưới dạng vật chất nhất định thuộc một trong các thể loại văn học, nghệ thuật và khoa học. Tác giả, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay bao gồm : Tác giả phái sinh, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm. Trên thế giới, hầu hết các nước đều ghi nhận và bảo vệ các lợi ích này cho tác giả, ví dụ : pháp luật Nhật Bản quy định mục đích của luật bản quyền là nhằm “bảo đảm cho tác giả quyền về tinh thần và quyền về tác giả (quyền về kinh tế)” .Pháp luật Việt Nam không có quy định riêng về luật bản quyền mà QTG là một phần tạo nên hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
Khi một người tạo ra một tác phẩm văn học, khoa học hay nghệ thuật, thì người đó sẽ trở thành chủ sở hữu của tác phẩm đó và tự do quyết định việc sử dụng nó. Một tác phẩm được bảo hộ QTG kể từ thời điểm tác phẩm được ra đời nên không cần tiến hành thủ tục gì, như đăng ký hoặc nộp lưu chiểu, để tác phẩm đó có điều kiện được bảo hộ. Theo một cách chung nhất, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) định nghĩa QTG như sau: "Quyền tác giả là một thuật ngữ pháp lý chỉ quyền của người sáng tác đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ" QTG bao gồm hai nhóm quyền chính: các quyền kinh tế (quyền tài sản) và các quyền tinh thần (quyền nhân thân). Cả hai nhóm quyền này thuộc về người sáng tạo ra tác phẩm - người có thể thực hiện các quyền đó.
Thực hiện các quyền có nghĩa là tác giả 7 Luan van có thể tự mình sử dụng tác phẩm hoặc cho phép người khác sử dụng tác phẩm hoặc cấm người khác sử dụng tác phẩm của mình. Vai trò của quyền tác giả QTG đối với bản thân người sáng tạo : Mỗi tác phẩm hình thành mang dấu ấn riêng của tác giả, phản ánh từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: văn hóa, khoa học, nghệ thuật phục vụ cho phần lớn nhu cầu của cộng đồng. Việc pháp luật cho phép người sáng tác có được những quyền riêng là để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bù đắp những chi phí họ đã bỏ ra để tạo nên tác phẩm, bảo hộ giá trị của tác phẩm… là những vai trò chính của QTG. QTG đối với sự phát triển văn hóa và kinh tế : Với con số gần đây nhất trong Hội thảo quốc gia về vai trò của QTG đối với sự phát triển văn hóa và kinh tế cho biết: “Ở Thái Lan, dựa trên tổng số liệu điều tra năm 2006, tổng giá trị đóng góp của ngành công nghiệp dựa trên bản quyền cho nền kinh tế chiếm 4,48% GDP, chiếm 2,85% của tổng việc làm trong cả nước.
Hoặc ở Hàn Quốc, các ngành công nghiệp bản quyền Hàn Quốc đã tăng trưởng nhanh hơn so với các ngành công nghiệp khác của nền kinh tế trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến năm 2009. Trong năm 2009, các ngành công nghiệp dựa trên bản quyền Hàn Quốc đạt 105,4 ngàn tỷ Won, chiếm 9,89% GDP quốc gia”. Những con số trên phản ánh một phần tốc độ phát triển của ngành công nghiệp sáng tạo, có được điều đó cũng nhờ một phần chế định QTG được thực thi nghiêm ngặt. QTG thể hiện rõ sự khách quan và công bằng giữa chủ thể muốn khai thác, sử dụng tác phẩm và tác giả, chủ sở hữu QTG.
QTG và sự ra đời của các tác phẩm mới : Việc tạo ra chế định QTG, ngoài việc đáp ứng nhu cầu bảo hộ, QTG còn tạo động lực, kích thích sự tìm tòi, sáng tạo của các cá nhân để sáng tác ra các tác phẩm mới đạt được lợi ích kinh tế trong quá trình khai thác, sử dụng và phục vụ nhau cầu xã hội loài người. Lịch sử hình thành quyền tác giả Trên thế giới Từ thời cổ đại, con người ta đã có những ý niệm về “sở hữu trí tuệ”, tuy chưa có QTG đầy đủ đối với sản phẩm tinh thần. Nhà thơ La Mã Marcus Valerius Martialis (42- 104 SCN) đã gọi người lấy thơ của ông mà đề tên mình là những “kẻ cướp của người”, từ đó ngày nay chúng ta có từ “kẻ đạo tác phẩm”. Sau phát minh kỹ thuật in sách (vào khoảng năm 1440), khả năng nhân bản lớn đã dẫn đến nhu cầu phải bảo hộ về pháp lý chống lại những kẻ kinh doanh không đầu tư vào tác phẩm mà chỉ in lại nó (in lậu).
Nhà xuất bản hoặc xưởng in chỉ sẵn sàng chấp nhận rủi ro cho việc đầu tư công sức, tiền bạc khi việc bán sách của họ được bảo vệ chống in lậu. Thêm vào đó, thời kỳ Phục hưng đã 8 Luan van thúc đẩy phát triển chỉ nghĩa cá nhân và cùng với nó là sự tự tin của những văn nghệ sĩ, nên người ta bắt đầu lên án đạo văn. Trong thời kỳ phát triển của QTG có rất nhiều học thuyết được ra đời, có những học thuyết tồn tại những quan điểm trái ngược nhau. Tại Anh quốc, trước khi biết đến Thuyết quyền sở hữu trí tuệ (sở hữu tinh thần), một học thuyết có tên là lý thuyết về quyền sở hữu của nhà xuất bản ra đời, nội dung của học thuyết này cho rằng các nhà xuất bản và các nhà in cũng đương nhiên có quyền sở hữu đối với các tác phẩm do họ xuất bản và tái bản theo nhu cầu, nhất là khi họ đã trả cho tác giả những tác phẩm này một khoản tiền.
Lý thuyết về quyền sở hữu của nhà xuất bản này do Hiệp hội các nhà xuất bản nước Anh đề xướng lần đầu tiên tại London vào năm 1556. Nhưng sau đó, Thuyết quyền sở hữu trí tuệ ra đời và đã dần lấn át thuyết về quyền sở hữu của nhà xuất bản. Nước Anh dưới triều đại của Nữ hoàng Anne là nước đầu tiên công nhận độc quyền của tác giả trong việc nhân bản tác phẩm của mình (1779). Có hai nguyên nhân chính dẫn đến việc công nhận : trước tiên là vì quyền lợi của xã hội mà phải phá vỡ thế độc quyền của Hiệp hội các nhà xuất bản và thứ hai là theo Luận thuyết về Lao động của John Locke, con người phải đương nhiên có quyền tự nhiên sở hữu những gì do họ làm ra.
Theo gương nước Anh, tuy không chấp nhận lý thuyết về quyền tự nhiên, nước Mỹ vào năm 1795 cũng ban hành luật liên bang cho phép tác giả có quyền độc quyền khai thác về mặt kinh tế tác phẩm trong thời gian 14 năm và có thể được gia hạn thêm trong vòng 14 năm nữa. Tại Đức và Thụy Sĩ, thuyết QTG cũng được thảo luận sôi nổi. Nước Phổ (thuộc Đức cổ) vào năm 1987 đã ban hành Luật bảo vệ quyền sở hữu tác phẩm khoa học và nghệ thuật. Dần dà, theo thời gian, có rất nhiều học thuyết khác về QTG ra đời như Thuyết quyền nhân thân, Thuyết quyền tài sản phi vật chất nhưng phải đến Thuyết nhất nguyên mới được thừa nhận rộng rãi và làm cơ sở cho việc hình thành QTG bây giờ.
Theo thuyết này, không thể có hai loại quyền song song cùng xuất phát điểm là cá nhân tác giả (như quyền sở hữu của nhà xuất bản và quyền sở hữu trí tuệ của tác giả tác phẩm như đã đề cập ở trên) mà chỉ có một loại quyền với hai chức năng bảo vệ mà thôi (ngày nay được gọi là QTG). Một số quan điểm quan trọng của Thuyết nhất nguyên như : (i) QTG bảo vệ tác giả trong quan hệ với tác phẩm về mặt tinh thần và cá nhân, cũng như trong việc sử dụng tác phẩm (ii) QTG là một quyền thống nhất không thể tách biệt giữa quyền nhân thân và quyền tài sản (iii) QTG không thể chuyển nhượng, trừ trường hợp thừa kế. Tiếp tục xu thế tăng cường bảo vệ quyền lợi của tác giả, hiện nay, QTG được hiểu không phải một đặc quyền. Sự xuất hiện của QTG không phải bằng sự trao tặng 9 Luan van của nhà nước, không phải quan việc hoàn thành các thủ tục, mà là qua hoạt động sáng tạo tác phẩm.
QTG trao cho tác giả quyền của một chủ sở hữu khi công nhận tác phẩm là của tác giả. Tại Việt Nam Ngay từ bản hiến pháp đầu tiên vào năm 1946, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân liên quan đến QTG, thể hiện tư tưởng tiến bộ nhân văn về quyền con người. Đó là quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản của công dân, là việc Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức, tôn trọng quyền tư hữu tư nhân về tài sản. Tư tưởng lập pháp đó đã tiếp tục được thể hiện tại Hiến pháp 1959, 1980 và Hiến pháp 2013 đang có hiệu lực thi hành.
Năm 1986 với NĐ 142/HĐBT, lần đầu tiên ở Việt Nam một văn bản riêng biệt về QTG đã được ban hành với những quy định cơ bản, ban đầu với sự giúp đỡ của hãng VAB (Hãng bảo hộ QTG của Liên Xô cũ).