CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm về bảo hộ quyền tác giả bằng biện pháp dân sự 1. Khái niệm bảo hộ quyền tác giả bằng biện pháp dân sự Theo Từ điển Luật học (Black Law Dictionary) thì định nghĩa về quyền tác giả được hiểu là: Quyền sao chép; cụ thể, là quyền tài sản đối với một tác phẩm gốc của tác giả, bao gồm văn học, âm nhạc, kịch, biên đạo, tranh ảnh, đồ họa, điêu khắc và kiến trúc; hình ảnh chuyển động và các tác phẩm nghe nhìn khác và ghi âm, được cố định trong bất kỳ phương tiện hữu hình nào và trao cho chủ sở hữu sự độc quyền sao chép, điều chỉnh, phân phối, thực hiện và hiển thị tác phẩm.1 Hầu hết các quốc gia không đưa ra định nghĩa chính thức về quyền tác giả. Mỗi quốc gia có những cách khác nhau để đề cập như liệt kê nội dung hoặc dẫn chiếu đến mục khác trong văn bản luật hoặc mang tính chất tổng hợp từ điều luật trước đó.
Ví dụ theo quy định tại Điều 01, Luật số 48 của Nhật Bản, ban hành ngày 06/5/1979 thì quyền tác giả cung cấp các quyền của các tác giả và các quyền liên quan đến các tác phẩm cũng như các buổi biểu diễn, bản ghi âm, phát sóng và khuếch tán dây, để bảo vệ quyền của các tác giả, v. khai thác hợp lý và công bằng các sản phẩm văn hóa này và qua đó góp phần phát triển văn hóa 2. Hiện nay, thế giới chia thành hai trường phái với hai thuật ngữ khác nhau là: Author’s right (quyền của tác giả) và Copyright (quyền bản quyền). “Author’s right”, được sử dụng chủ yếu trong Pháp luật châu Âu lục địa (Dân luật - civil law), dịch từ “droit d’auteur” của Pháp, chủ yếu chú trọng đến người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật.
“Qua đó nhấn mạnh sự việc là tác giả có những quyền cụ thể nhất định đối với sáng tạo của mình, chẳng hạn như quyền ngăn cản việc làm bản sao bị bóp méo mà người thực hiện chỉ có thể là tác giả, trong khi những quyền khác chẳng hạn như quyền làm bản sao có thể do người khác thực hiện, ví dụ như một nhà xuất bản được cấp li-xăng để được làm việc đó” 3. 1 Từ điển Luật học Black law dictionary, https://ia802804.org/1/items/BlacksLawDictionary- Editions1-9/Black's%20Law%20Dictionary%20-%20Editions%201-9/9th%20Edition.pdf, 12/10/2019 2 Luật số 48 của Nhật Bản, http://www.jp/english/clj/doc/20161018_October,2016_Copyright_ Law_of_Japan.pdf, 12/10/2019 3 Shahid Alikhan (2007), Lợi ích kinh tế xã hội của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ ở các nước đang phát triển, NXB Bản đồ, Hà Nội, tr. 9 Trong khi đó, “Copyright” - được sử dụng phổ biến trong hệ thống Thông luật (Common law) - lại nhấn mạnh bảo hộ quyền của chủ sở hữu tránh khỏi việc bị sao chép. Khái niệm về quyền bản quyền này được ra đời theo đạo luật Anne 1710 (Statue of Anne), luật được xem là luật bản quyền đầu tiên trên thế giới.
“Copyright tập trung bảo vệ quyền lợi kinh tế của chủ sở hữu, chống lại hành vi sao chép tràn lan tác phẩm” 4. Từ đó ta thấy, sự khác nhau cơ bản giữa hai trường phái nằm ở việc thừa nhận nội dung được bảo hộ. Nếu “Author’s right” bảo hộ quyền tài sản và nhân thân của tác giả thì “copyright” lại thiên về việc bảo hộ quyền tài sản. “Pháp luật Việt Nam không phải là một hệ thống pháp luật riêng biệt như Thông luật hay Dân luật mà lại có đặc trưng của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa kết hợp những yếu tố ngoại lai do quá trình hội nhập kinh tế với phương Tây kể từ thời kỳ đổi mới”5.
Các quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ đó cũng trở nên phong phú và linh hoạt hơn. “Bản quyền, tác quyền là các quyền nhân thân và quyền tài sản mà tác giả được hưởng đối với tác phẩm được nhà nước bảo hộ”6. Nhằm đảm bảo cho tác giả được bảo hộ toàn vẹn quyền của mình đối với tác phẩm, quyền tác giả cần được hiểu theo một phạm vi rộng, xác định đầy đủ các yếu tố liên quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực thi và bảo hộ sau này. Do đó, quyền tác giả có thể được hiểu là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân, được quyền khai thác tác phẩm và chống lại các hành vi xâm phạm.
Quyền tác giả là phần cốt lõi của pháp luật nhằm trao cho tác giả sự bảo hộ cho những sáng tạo văn học và nghệ thuật của họ, chống lại việc sao chép, truyền bá bất hợp pháp. Theo quy định, các tác phẩm đủ điều kiện bảo hộ quyền tác giả là các sáng tạo trí tuệ gốc, được bảo hộ bất kể chất lượng ra sao. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, quyền tác giả được bảo hộ theo những nguyên tắc chung của pháp luật dân sự. Có nghĩa rằng, Nhà nước sẽ không bảo hộ những tác phẩm có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội, đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
4 Bùi Thu Hằng (2010), Vấn đề thực hiện quyền tác giả trong hoạt động thông tin - thư viện trên địa bàn TP HCM, Trường ĐH KHXH và NV ĐH QG TPHCM, tr. 5 Nguyễn Quang Đức, “Việt Nam thuộc hệ thống pháp luật nào”, https://hocluat.vn/viet-nam-thuoc-thong- phap-luat-nao/, 22/10/2022 6 Từ điển Luật học, NXB Tư pháp, 2006, tr. 412 10 Từ những gì đã phân tích, có thể thấy, quyền tác giả có ba đặc điểm nổi bật sau đây: Thứ nhất, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo. Hay nói cách khác, tác phẩm phải được ghi nhận dưới một hình thức vật chất nhất định.
Quyền sở hữu trí tuệ khác với quyền sở hữu tài sản thông thường ở đối tượng sở hữu. Sở hữu thông thường là sở hữu các tài sản hữu hình, con người có thể chiếm giữ, sờ, nắm được. Còn tài sản sở hữu trí tuệ lại là kết quả hoạt động sáng tạo của con người, không thể nắm bắt một cách cụ thể. “Do đặc tính vô hình của đối tượng sở hữu nên nội dung chiếm hữu hầu như không có ý nghĩa đối với hầu hết các sản phẩm trí tuệ” 7.
Xã hội thường tiếp cận với các sản phẩm trí tuệ thông qua các biểu hiện cụ thể của sản phẩm đó, hay nói cách khác là sản phẩm đã được vật chất hóa. Một khi đã được bộc lộ, sản phẩm trí tuệ có thể lan truyền vô giới hạn, không kiểm soát được. Ví dụ như một tác giả nghiên cứu vất vả để viết sách, nhưng khi công bố, thì thông tin và trí tuệ từ sách trở thành của chung, ai cũng có thể tiếp cận, sử dụng và hưởng thụ được. Thứ hai, tác phẩm được bảo hộ phải có tính nguyên gốc, tức là không sao chép hay bắt chước tác phẩm khác.
Để đánh giá một tác phẩm có phải nguyên gốc hay không, cần phải xem phần nào của tác phẩm đã được sáng tạo. Điều đó không có nghĩa ý tưởng của tác phẩm phải mới, mà có nghĩa hình thức thể hiện của ý tưởng phải do chính công cuộc lao động trí óc của tác giả sáng tạo ra, mang dấu ấn tác giả. Chính từ tính nguyên gốc này mà các quyền của tác giả mới được khái quát hóa và xây dựng các cơ chế bảo hộ tương ứng. Với tư cách là chủ thể sáng tạo ra tác phẩm, tác giả trước tiên có quyền độc quyền khai thác tác phẩm đó, như là quyền và lợi ích từ việc sáng tạo, đầu tư tác phẩm.
“Tuy nhiên, việc bảo hộ độc quyền có thể dẫn đến tiêu cực là hạn chế cạnh tranh, tạo điều kiện cho chủ thể quyền có cơ hội lạm dụng quyền ảnh hưởng đến sự tiếp cận tác phẩm của công chúng. Do đó tính độc quyền trong bảo hộ quyền tác giả chỉ mang tính tương đối” 8. Nói cách khác, “nếu người thứ ba sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ mà không được phép của chủ sở hữu thì bị coi là vi phạm quyền của chủ sở hữu. Nhưng nếu việc sử dụng đó không nhằm mục đích thương mại hoặc không 7 Kiều Thị Thanh (2000), “Chuyên đề Một số vấn đề về quyền tác giả trong luật dân sự Việt Nam”, Thông tin khoa học pháp lý số 6, tr.
23 8 Nguyễn Thị Tuyết Nga (2012), Giới hạn quyền tác giả theo hiệp định TRIPS và pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ,Trường Đại học Luật TP. 20 11 nhằm phương hại đến hoạt động thương mại của chủ sở hữu thì sẽ không bị coi là vi phạm” 9. Có thể thấy, quyền tác giả một mặt khuyến khích các tác giả nỗ lực sáng tạo, nhưng đồng thời cũng tạo cơ chế “sử dụng hợp lý” (fair-use) để các tri thức có cơ hội được phổ biến đến toàn nhân loại để cùng lĩnh hội, thụ hưởng và tiếp tục phát triển. Thứ ba, quyền tác giả được bảo hộ theo cơ chế tự động, không cần đăng ký.
Đây là cơ chế đặc thù bảo hộ quyền tác giả theo quy định chung của Công ước Berne. Theo đó quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới dạng vật chất nhất định, không lệ thuộc vào bất kì thủ tục nào như đăng ký cấp giấy chứng nhận hay nộp lưu chiểu. Việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền. Tuy nhiên, nhà nước vẫn khuyến khích tác giả đăng ký để tạo điều kiện tốt nhất, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tác giả trong trường hợp có vi phạm.
Cơ chế này khác với đối tượng sở hữu công nghiệp khi chủ thể sáng tạo phải nộp đơn đăng ký bảo hộ cho cơ quan quản lý quyền sở hữu trí tuệ để nhận được sự bảo hộ. Tài sản sở hữu trí tuệ tuy là một loại tài sản vô hình, nhưng lại chứa đựng sự sáng tạo, đầu tư, thời gian của con người. Một khi thành quả sáng tạo ấy được công bố rộng rãi, công chúng tiếp nhận, sẽ tác động đến tiến bộ xã hội. Từ đó, việc xây dựng một cơ chế bảo hộ quyền tác giả hợp lý, thỏa đáng, công bằng và nhân văn trở nên hết sức cần thiết, đặc biệt tại các nước đang phát triển, nơi mà việc bảo hộ quyền này không được chú trọng đúng mức.
Điều này vừa nhằm đảm bảo quyền lợi của chủ thể sáng tạo tác phẩm, chủ thể sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm, vừa đảm bảo tri thức được truyền bá đến cộng đồng, góp phần vào sự phát triển của nhân loại.