Chương 1 Hiệp định EVIPA. 12 Trần Thị Hải An (2023), Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nước ngoài và Nhà nước Việt Nam theo Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU, Luận án Tiến sĩ Luật học, trang 45. 12 hoạt động an toàn đối với các NĐTNN. ĐTNN mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, tranh thủ vốn, công nghệ hiện đại và quản lý kinh tế tiên tiến của nước ngoài để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ta.
Bên cạnh đó, thu hút vốn đầu tư là những hoạt động, những chính sách của chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư đề nhằm quảng bá, hỗ trợ, khuyến khích các NĐT bỏ vốn thực hiện mục đích đầu tư phát triển. Sở dĩ việc xuất hiện ngày càng nhiều NĐTNN sẽ giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ mới, tạo cơ hội tham gia mạng lưới toàn cầu về sản xuất nhằm thuận lợi cho gia tăng xuất khẩu, tăng cường giao thương với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Sự phát triển của kinh tế ngày càng lớn, việc kinh doanh và áp dụng các hình thức kinh doanh càng mở rộng và phát triển, vì vậy có nhiều hình thức kinh doanh mang lại hiệu quả và nguồn lợi lớn cho nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là các hình thức đầu tư. Các HĐĐT kinh doanh ra nước ngoài và vào Việt Nam ngày càng được mở rộng, cơ chế ngày càng thuận lợi để tạo điều kiện cho các bên đạt được những hiệu quả nhất định trong việc đầu tư.
Việc thu hút vốn đầu tư vô cùng cần thiết, nâng cao sản xuất trong nước, tạo mức tăng trưởng kinh tế cao và ổn định13. Một quốc gia được nhiều NĐT đến đầu tư không chỉ góp phần gia tăng kinh tế, chế định pháp luật phù hợp, thuận lợi mà còn góp phần gia tăng vị thế uy tín của quốc gia đó. Đứng ở phương diện là nước nhận đầu tư thì một trong những điều quan trọng để thu hút đầu tư là chế định pháp luật, một khi chế định pháp luật phù hợp và tạo thuận lợi cho NĐT thì NĐT đó sẽ cân nhắc đến đầu tư cùng với những lợi ích khác. Còn đứng ở góc độ là NĐT thì yếu tố quyết 13 Xem chi tiết tại https://www.net/shareslide18/thuc-trang-va-giai-phap-thu- hut-dau-tu-truc-tiep- nuoc-ngoai-vao-viet-nam, truy cập ngày 15/05/2021.
13 định có đầu tư hay không là pháp luật tại nước nhận đầu tư có phù hợp, có tạo điều kiện đối với NĐTNN không, có phân biệt đối xử giữa NĐTNN và NĐT trong nước hay không…. Nếu giữa các nước nhận đầu tư đều mất chi phí đầu tư như nhau chỉ khác nhau giữa chế định pháp luật thì quốc gia nào có chế định pháp luật ưu việt hơn sẽ được chọn để đến đầu tư. Hoặc trường hợp chi phí đầu tư của quốc gia A thấp hơn quốc gia B nhưng lại có sự phân biệt giữa các NĐT trong quy định của pháp luật, thì NĐT sẵn sàng chọn quốc gia B để đầu tư. Vì thứ tiên quyết trong kinh doanh là cạnh tranh lành mạnh và công bằng.
Như vậy, có thể thấy chế định pháp luật là một trong những yếu tố tiên quyết và cần thiết đối với NĐT. Có thể hiểu, bảo hộ đầu tư nước ngoài dưới góc độ pháp lý là việc đảm bảo cho NĐTNN trong quy định pháp luật, nhằm tạo ra một khung pháp lý vững chắc trong việc quản lý và kêu gọi NĐT đến đầu tư. Hầu như NĐT nào khi đi đầu tư cũng muốn được đối xử như các NĐT trong nước nên việc quy định pháp luật phải công bằng, hợp lý là điều cần thiết. Bất kì NĐT nào cũng muốn mình không bị giới hạn trong việc kinh doanh cũng như chuyển lợi nhuận hay vốn đầu tư của mình, và được bảo vệ trong các quyền và lợi ích; còn tại nước nhận đầu tư thì muốn mình được hưởng tối đa lợi ích khi NĐTNN đến đầu tư.
Do đó, để giải quyết vấn đề trên một trong những điều tiên quyết là áp dụng pháp luật, cả hai phải thực hiện những cam kết với nhau thông qua các điều ước quốc tế của các quốc gia hoặc các hiệp định song phương/ đa phương/ khu vực… về những vấn đề liên quan để có được tiếng nói chung và tìm được hướng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra. Đó là lý do mà Việt Nam và nhiều nước trên thế giới ký kết khá nhiều các Hiệp định song phương/ đa phương. BHĐT là thuật ngữ để thể hiện sự đảm bảo NĐT đối với NĐTNN, có thể xem đây là một hình thức bảo hiểm về tài chính cũng như pháp luật điều chỉnh 14 với NĐT. BHĐT là việc cam kết đối xử thỏa đáng và công bằng cho cả hai bên, an toàn và đầy đủ cho NĐTNN thông qua nhiều hình thức như tham gia các Điều ước quốc tế, Hiệp định song phương, đa phương… Việt Nam hiện nay cũng đã và đang tạo ra khung pháp lý an toàn với môi trường kinh doanh, đầu tư hấp dẫn, là một điểm đến đầu tư vô cùng béo bở cho các NĐTNN.14 BHĐT đề cập trong các Điều ước quốc tế là những quy tắc nhằm bảo vệ lợi ích của NĐTNN trước hành động của quốc gia nhận đầu tư gây những thiệt hại không chính đáng đến lợi ích của NĐT.
Do đó, có thể hiểu BHĐT là “những hoạt động của quốc gia nhận đầu tư nhằm bảo vệ lợi ích của NĐTNN trước những hành động của quốc gia nhận đầu tư gây thiệt hại đến lợi ích của NĐTNN” 15. Như vậy, BHĐT được bảo hộ dưới hình thức những cam kết mang tính quốc gia, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận hoặc thừa nhận giá trị pháp lý ràng buộc của các quốc gia, chứa đựng quy tắc và nguyên tắc quốc tế. Những nguyên tắc này chủ yếu gồm bốn vấn đề: “Một là những biện pháp điều chỉnh để chống lại những hành vi cơ bản mà NĐT tìm kiếm sự bảo vệ như quốc hữu hóa, tịch biên,.; Hai là những điều khoản liên quan đến ĐT như sự phân biệt đối xử về thuế, sở hữu trí tuệ; Ba là các điều khoản không công bằng tác động đến NĐTNN theo cách thức không tương xứng với NĐT trong nước, đòi hỏi phải có sự đảm bảo thích đáng; Bốn là điều khoản về giải quyết tranh chấp với tính chất như điều khoản bổ sung cho các điều khoản về BHĐT”16. Các quốc gia 14 Nguyễn Lan Nguyên (2021), “Một số ý kiến về các quy định bảo hộ đầu tư trong Pháp luật đầu tư của Việt Nam”, Tạp chí tài chính, https://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/mot-so-y-kien-ve-cac-quy-dinh-bao-ho- dau-tu-trong-phap-luat-dau-tu-cua-viet-nam-335819.html truy cập ngày 19/12/2021.
“Ngày 09 tháng 4 năm 2016, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 11 đã thông qua Luật Điều ước quốc tế thay thế cho Luật Ký kết và gia nhập Điều ước quốc tế năm 2005 với những quy định cụ thể về việc thực hiện các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Điều 6, Điều 78). Đây chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam thực hiện các Điều ước quốc tế về đầu tư.” 15 Nguyễn Quỳnh Anh (2020), Lý luận và thực tiễn về bảo hộ đầu tư theo các Hiệp định về đầu tư của ASEAN trong giai đoạn hiện nay”, Luận án Tiến sỹ Luật học, trang 39. 16 Nguyễn Quỳnh Anh (2020), Lý luận và thực tiễn về bảo hộ đầu tư theo các Hiệp định về đầu tư của ASEAN trong giai đoạn hiện nay”, Luận án Tiến sỹ Luật học, trang 40. 15 tiếp nhận đầu tư cần tuân thủ các nguyên tắc, quy tắc này một cách thường xuyên, xuyên suốt, thiện chí để có thể thu hút được ngày càng nhiều NĐTNN.
Quá trình toàn cầu hóa ngày càng phát triển đã tạo nên môi trường thuận lợi cho đầu tư giữa các quốc gia. Việc đầu tư ra nước ngoài không chỉ đem lại nguồn lợi kinh tế, sự tín nhiệm về sản phẩm, danh tiếng của doanh nghiệp mà còn nâng cao được uy tín của quốc gia nhận đầu tư. Có thể hiểu bảo hộ NĐTNN là việc đảm bảo mọi đối xử, quyền lợi công bằng giữa các NĐT với nhau, cùng tạo điều kiện thuận lợi kinh doanh như nhau, cơ hội cạnh tranh ngang nhau… Đồng thời, việc đảm bảo công bằng với các NĐT không chỉ đem lại nguồn lợi về mặt kinh tế là có nhiều NĐTNN đến đầu tư mà còn là việc thể hiện vị thế và uy tín của quốc gia đó trên trường quốc tế. Đó cũng là lý do mà Việt Nam ký kết nhiều Hiệp định, điều ước quốc tế,… giữa các nước, khu vực, khối kinh tế,….
Pháp luật điều chỉnh bảo hộ Nhà đầu tư nước ngoài Hiện nay, mọi nền kinh tế trên thế giới, ĐTNN luôn là lĩnh vực quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng thị trường nhằm tăng nguồn thu đáng kể cho Ngân sách Nhà nước, tạo vị thế vững chắc để quốc gia đó chủ động hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới. Do vậy, hiểu được xu hướng bảo hộ và tự do hóa đầu tư sẽ cho chúng ta những cái nhìn tổng quan về đầu tư Việt Nam đã và đang tích cực tham gia ký kết và thực hiện các Hiệp định song phương, đa phương,. Có thể kể đến trong những văn bản quy phạm pháp luật nội tại của nước ta hay các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia cũng đề cập đến khá nhiều về bảo hộ NĐT. Điều này cho thấy việc 16 đầu tư giữa các quốc gia, các khu vực được quan tâm hơn bao giờ hết, đồng thời giúp các nước tạo điều kiện thuận lợi cho các NĐT có cơ hội phát triển.
Văn bản pháp luật trong nước Ngày nay, Việt Nam tham gia ký kết khá nhiều các điều ước quốc tế, Hiệp định song phương, đa phương,.với các quốc gia hoặc khu vực, vùng lãnh thổ. Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành khung pháp lý nội luật một cách hoàn chỉnh nhất, tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp nói chung và các NĐTNN nói riêng. Chính vì vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn được xem là một trong những trụ cột của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. FDI đã đóng góp một nguồn vốn quan trọng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần nâng cao năng lực quản lý, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng và tạo thêm nhiều việc làm.17 Đối với Việt Nam, việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực luôn có ý nghĩa với việc tăng trưởng, phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.