Chương 1 BẢO HIỂM Y TẾ Ở KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khu vực kinh tế phi chính thức 1.1 Khái niệm khu vực kinh tế phi chính thức Khái niệm khu vực kinh tế phi chính thức (Informal sector) xuất hiện từ cuối những năm 60. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một tên gọi, chưa có một khái niệm thống nhất về khu vực kinh tế này. Do đây là khu vực kinh tế rất phức tạp; ở mỗi quốc gia, khu vực này có những đặc điểm rất khác biệt; khu vực này có thể được nghiên cứu, xem xét dưới những góc độ khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa ngắn gọn bao quát được đầy đủ tính chất, đặc điểm của khu vực này.
Định nghĩa về khu vực kinh tế phi chính thức của Liên hợp quốc, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) có nhiều điểm hợp lý và phù hợp với điều kiện của các nước đang phát triển hơn cả. Để có thể đo l- ường và đánh giá được vị trí và vai trò của khu vực kinh tế phi chính thức trong nền kinh tế quốc dân, Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa: Khu vực kinh tế phi chính thức là đơn vị sản xuất có sử dụng các đầu vào về vốn, lao động, hàng hoá và dịch vụ để tạo ra hàng hoá hoặc dịch vụ nhất định được thực hiện bởi các cá nhân người lao động hoặc hộ gia đình hoặc nhóm nhỏ người lao động nhưng không đăng ký theo quy định của luật pháp, không thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh. Với quan niệm này, khu vực kinh tế phi chính thức được xem xét không dừng lại ở những tiêu chí thông thường, mà từ cấu trúc bên trong của nó; khu vực kinh tế phi chính thức được nghiên cứu với tư cách là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế. Là một nước đang phát triển, các hoạt động kinh tế phi chính thức ở Việt Nam khá phổ biến.
Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế phi chính 7 thức vẫn giữ các đặc điểm chung và phát triển mạnh bởi cơ chế kinh tế thông thoáng và nền kinh tế phát triển thuận lợi hơn theo hướng thị trường. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến trái chiều về quy mô thực của khu vực kinh tế này. Việt Nam có cơ cấu lao động làm trong ngành nông nghiệp cao, lại do tính chất thời vụ của sản xuất nông nghiệp, từ xa xưa, vào lúc nông nhàn, người nông dân luôn tìm thêm các công việc để nâng cao mức thu nhập, mức sống của mình. Những công việc phi nông nghiệp do người nông dân tự tạo đã xuất hiện từ thời xa xưa như: đàn ông chẻ lạt, đan lát; phụ nữ buôn bán, nuôi tằm, trồng dâu, dệt vải.
Dần dần, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhiều ngành nghề khác xuất hiện: giấy, gốm sứ, thuỷ tinh, dệt may, chế biến thực phẩm, rèn đúc kim loại. Ở mỗi địa phương, do tiềm năng và sở trường khác nhau, một số ngành nghề nhất định được phát triển, hình thành nên những làng nghề khác nhau: gốm Bát Tràng, tơ lụa Vạn Phúc,. Đến nay, mặc dù các làng nghề có sự thăng trầm những vẫn tiếp tục tồn tại. Ở những vùng nông thôn không có làng nghề thì hoạt động sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp luôn tồn tại đan xen nhau, bổ sung cho nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và đời sống.
Có thể nói rằng, hoạt động kinh tế phi chính thức đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm. Khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực gồm những người, các hộ gia đình có hoạt động kinh doanh nhưng chưa hay không cần đăng ký kinh doanh với nhà chức trách. Họ gồm những người hành nghề tự do, các hộ kinh doanh cá thể, từ trẻ đánh giày, bán báo, người bán hàng rong, lái xe ôm đến những người làm nghề xây dựng, dịch vụ hay các hộ sản xuất cá thể khác. Phần lớn họ tự doanh, một số có thuê người làm.
Khu vực kinh tế phi chính thức được hiểu là bộ phận không có đăng ký kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân. 8 Nghiên cứu về hình thức hoạt động và tổ chức lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức nói chung, ở thành thị nói riêng, một số công trình nghiên cứu của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã Hội đã phân chia hoạt động trong khu vực kinh tế phi chính thức thành các loại hình chủ yếu: - Loại thứ nhất: hoạt động đơn lẻ một mình, bao gồm các cá nhân làm nghề tự do như: bán hàng vặt, hàng rong, cắt tóc, may vá, xích lô, xe ôm, cửu vạn, giúp việc gia đình, gia sư, bán vé số, bán báo, đánh giầy. Chủ thể này phần lớn hoạt động ở đô thị và đa dạng hơn so với ở nông thôn. - Loại thứ hai: hoạt động đã mang tính tập thể tổ chức theo từng nhóm người, nhưng vốn đầu tư ít, phương tiện trang bị sơ sài.
Loại này quy mô thường bó hẹp trong phạm vi nhỏ hộ gia đình hoặc một số ít người góp vốn tổ chức cùng làm ăn với nhau. Ở thành thị, khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm các hoạt động kinh tế đa dạng trong mọi lĩnh vực ngành nghề với quy mô nhỏ, mang tính cá thể, dùng sức lao động của bản thân và gia đình là chính hoặc có thuê mướn một số ít lao động. Đó là các tổ hợp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ (dưới 10 lao động); các hộ kinh doanh cá thể và các cá nhân làm nghề tự do với địa điểm sản xuất - kinh doanh thường không ổn định và không quy định cụ thể thời gian làm việc, phần lớn hoạt động ở nhà, ngõ chợ, bến bãi tàu xe, vỉa hè lòng đường.2 Vai trò khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam Khu vực kinh tế không chính thức tồn tại như một tất yếu khách quan, luôn luôn chịu sự tác động của các qui luật kinh tế, của chính sách phát triển kinh tế - xã hội cũng như hiệu lực của hệ thống pháp luật ở mức độ khác nhau tùy thuộc vào mỗi nước. Khu vực này đã trở thành bộ phận cấu thành của nền kinh tế của tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.
Tại Việt Nam, theo thống kê, khu vực kinh tế phi chính thức cung cấp 9 gần 1/4 tổng số việc làm và một nửa việc làm phi nông nghiệp. Chiếm tới 82% tổng số việc làm trên cả nước [20, tr. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế trên quy mô toàn cầu thì vai trò của khu vực kinh tế phi chính thức ngày càng tỏ ra có tác động hữu hiệu. Tầm quan trọng của khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức đang được đánh giá ngày càng đúng đắn hơn.
Ở Việt Nam cũng như các quốc gia đang phát triển và chuyển đổi, khủng hoảng kinh tế trên quy mô toàn cầu đã dẫn đến mất việc làm và tái cơ cấu thị trường lao động. Trong bối cảnh ấy, khu vực kinh tế phi chính thức ngày càng tỏ ra là bến đỗ hữu hiệu trong thời kỳ khủng hoảng. Năm 2008 vừa qua, nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng phải đương đầu với hàng loạt các cuộc khủng hoảng, mà đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến kinh tế tăng trưởng chậm, việc làm trở nên khó khăn, thất nghiệp ở khu vực thành phố tăng cao.
Ở nông thôn do sự chậm trễ của các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế nông thôn, sự hạn hẹp của đất canh tác và đặc biệt là tính chất thời vụ của khu vực này mà tình trạng thất nghiệp cũng chậm được khắc phục. Trong thời kỳ suy giảm kinh tế vừa qua, khu vực không chính thức đã “gánh đỡ” nhiều cho nền kinh tế của Việt Nam. Trong khi tỷ lệ thất nghiệp ở các nước đều tăng trước tác động của biến động kinh tế toàn cầu thì tại Việt Nam số đó lại giảm. Đặc biệt, nhờ khởi nguồn từ khu vực này mà không ít doanh nghiệp còn phát đạt, thành công và cung cấp một nguồn việc làm rất lớn.
Hoạt động kinh tế phi chính thức xuất hiện khắp mọi nơi ở Việt Nam. Quy mô và vai trò của khu vực kinh tế phi chính thức là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Một thực tế là hầu hết người nghèo ở Việt Nam có thu nhập nhờ tham gia các hoạt động kinh tế mà chủ yếu là trong khu vực kinh tế phi chính thức. 10 Việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức đang tăng và có xu hướng thu hút nhiều lao động.
Ngược lại, nhiều người lao động cũng có xu hướng dịch chuyển sang khối này để cải thiện đời sống. Hiện nay, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, khu vực này lại cung cấp một nguồn việc làm rất lớn. Theo công bố mới nhất của Trung tâm phân tích và dự báo, thu nhập hàng tháng của lao động khu vực phi chính thức đang tăng cao. Khảo sát cho thấy, ngoài nuôi sống bản thân, tiền gửi về cho gia đình không giảm, ở một số ngành nghề như xây dựng dân dụng, dịch vụ còn tăng cao hơn năm trước khoảng 500.000 đồng/tháng.
Ngay công việc giúp việc gia đình, mức lương năm 2010 phổ biến ở mức 1,5 - 2 triệu đồng/người/tháng, năm 2011 đã tăng lên 2,2 - 2,5 triệu đồng/người [9, tr. Sự tăng trưởng kinh tế khá cao của Việt Nam trong những năm qua đã ghi nhận sự phát triển đáng kể của hoạt động kinh tế phi chính thức. Năm 2010, lực lượng lao động của nước ta vào khoảng 48 triệu người, trong đó lao động khu vực chính thức chiếm 13 triệu người, lao động khu vực không chính chức chiếm 11 triệu người [14, tr.3], còn lại có gần 24 triệu người làm việc trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 49% tổng việc làm trong nền kinh tế. Cả nước có 8,4 triệu hộ sản xuất, kinh doanh phi chính thức, trong đó 7,4 triệu hộ xem hoạt động trong khu vực này của mình là việc làm chính và 1 triệu hộ xem đó là việc làm thứ hai.
Thu nhập từ khu vực việc làm phi chính thức chiếm khoảng 30 – 60% tổng thu nhập quốc gia, đóng góp 20% tổng GDP của cả nước [3, tr. Nếu nghề nông và việc làm nông nghiệp được tính vào thì khoảng 73% số việc làm là do kinh tế hộ gia đình cung cấp.