Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Khái niệm, vai trò của pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật BHXH trên thế giới cho thấy, BHXH là vấn đề của mỗi quốc gia, nó đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó từ thế kỉ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển. Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp.
Từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời và để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp đỡ lẫn nhau. Cộng hòa liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH và BHXH lúc đó hoàn toàn mang tính chất bắt buộc. Tuy nhiên, sự phát triển của BHXH được thiết lập từng bước. Từ năm 1881 đến 1889, các chế độ BHXH bắt buộc lần lượt ra đời: chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau được thiết lập năm 1883, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động năm 1884 và chế độ bảo hiểm tuổi già năm 1889.
Vào cuối thế kỷ XIX, ở Đức chỉ có 10% dân số tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên đến thế kỷ XX, đặc biệt là từ năm 1950 BHXH bắt buộc phát triển đến mức số người tham gia chiếm hơn 90% dân số.15] Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người và được xã hội thừa nhận. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH”. Ngày 04/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã kí công ước Giơnevơ về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến hành BHXH cho NLĐ và gia đình họ.
6 luan an Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH đặc biệt là BHXH bắt buộc và coi đó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội. Khía cạnh kinh tế và pháp lý có các khái niệm về Bảo hiểm xã hội khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Bảo hiểm xã hội là sự: "Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động". Theo tác giả Trần Quang Hùng và Tiến sĩ Mạc Văn Tiến: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải các biến cố hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng các hình thức và sử dụng một qũy tài chính tập trung sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội".19] Cuốn: "Thuật ngữ lao động Thương binh xã hội" Tập 1 nhà xuất bản Lao động 1999, Bảo hiểm xã hội được hiểu là: "Sự bảo đảm của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của nhà nước để trợ cấp người lao động khi họ bị mất sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già chết nhằm đảm bảo an toàn xã hội".
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội".10] 7 luan an Dưới góc độ kinh tế: Bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự bảo đảm thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Dưới góc độ pháp lý: Chế độ Bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của Nhà nước, quy định các hình thức đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho người lao động và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khi đưa ra khái niệm Bảo hiểm xã hội song có một điểm chung là Bảo hiểm xã hội có tác dụng giúp người lao động trong những lúc khó khăn hiểm nghèo, ốm đau, tai nạn, thai sản. trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động có sự hỗ trợ của Nhà nước trước khi có biến cố xảy ra và khi người lao động gặp phải thì quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ giúp họ cân bằng phần thu nhập bị giảm sút hay bị mất, giúp họ trang trải phần chi tiêu bị tăng cao khi gặp các rủi ro khó khăn.
Như vậy, về bản chất BHXH chính là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro trong quá trình lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi họ không còn tham gia quan hệ lao động nữa như hết tuổi lao động, chết…BHXH thường được thực hiện dưới 2 hình thức: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện trong đó BHXH bắt buộc là hình thức BHXH quan trọng được áp dụng với phạm vi đối tượng tương đối rộng và các chế độ BHXH bao gồm cả BHXH ngắn hạn và BHXH dài hạn. Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH được xây dựng và thực hiện ở nước ta. Cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện BHXH tự nguyện ở Việt Nam là luật BHXH số 76/2006/QH được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006. Chế định về BHXH tự nguyện tại luật BHXH số 76/2006/QH được Quốc hội nước Cộng 8 luan an hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006, có hiệu lực thực hiện vào ngày 01/1/2008, cho đến nay pháp luật về BHXH tự nguyện ở Việt Nam được thực hiện gần 9 năm.
Sau thời gian đưa vào thực hiện đã được sửa đổi tại luật số 58/2014/QH13, được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014. Theo Từ điển giải thích thuâṭ ngữ Luâṭ hoc ̣ :“Bảo hiểm xã hôị tự nguyêṇ là loại hình bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa tổ chức , bảo trợ của Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo hiểm”. Nhằm hiểu rõ hơn bản chất của bảo hiểm xã hôị tự nguyêṇ cần phải phân biêṭ với loaị hình kinh doanh bảo hiểm (bảo hiểm thương mại ). Bảo hiểm xã hôị tự nguyêṇ và bảo hiểm thương mại được thực hiện trên cùng một nguyên tắc là có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi.
Hoạt động của hai loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những rủi ro gây ra thiệt hại trong khuôn khổ bảo hiểm đang tham gia. Phương thức hoạt động của hai loại hình này đều mang tính cộng đồng lấy số đông bù số ít. Tuy nhiên mục tiêu hoạt động của bảo hiểm thương mại là lợi nhuận còn mục tiêu hoạt động bảo hiểm xã hội tự nguyện là nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ. Vì vậy hoạt động bảo hiểm xã hội tự nguyện là hoạt động phi lợi nhuận và nhằm mục đích an sinh xã hội.
Như vậy thì BHXH tự nguyện là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHXH tự nguyện. Luật BHXH tự nguyện quy định chế độ, chính sách BHXH tự nguyện, đối tượng đóng, mức đóng, phương thức đóng, quyền, trách nhiệm của các bên liên quan đến việc thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện. 9 luan an Phân biệt BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện cùng là chính sách an sinh xã hội được thực hiện ở nước ta như BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện có nhiều điểm khác biệt để nhận thấy. + Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người lao động tham gia hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động (tổ chức hoặc cá nhân), nhưng đối với người tham gia BHXH tự nguyện là lao động tự do, tự mình tham gia đóng BHXH tự nguyện.
+ Phí BHXH bắt buộc bao gồm người lao động đóng một phần, chủ sử dụng đóng một phần, riêng phí BHXH tự nguyện thì do người tham gia BHXH tự nguyện đóng 100%; tuy nhiên do thực hiện chính sách mới cho nên Nhà nước hỗ trợ phần nhỏ trên đóng BHXH tự nguyện từ 2018 trở đi. + BHXH bắt buộc hiện nay có 5 chế độ, gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bằng nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất về BHXH tự nguyện có hai chế độ sau: hưu trí, tử tuất. + Phương thức đóng BHXH bắt buộc là theo tháng, có trường hợp đặc biệt theo ngành sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động thì họ có thể đóng theo quý, theo 6 tháng. Đối với BHXH tự nguyện, người lao động có thể đóng theo tháng, theo quý, cả năm hoặc đóng một lần cho nhiều năm sau đó, đặc biệt người tham gia BHXH tự nguyện đủ tuổi nghỉ hưu nhưng thời gian đóng BHXH tự nguyện đóng đủ từ 10 năm trở lên thì được đóng mỗi lần tiền gốc, tiền lãi để đủ tối thiếu 20 năm đóng BHXH tự nguyện để hưởng chế độ hưu BHXH.66] Quy định tại Khoản 3 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014): “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”.