Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
An sinh xã hội (ASXH) giữ vai trò then chốt trong sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, trong đó bảo hiểm xã hội (BHXH) là trụ cột trung tâm và bảo hiểm hưu trí (BHHT) đóng vai trò là hạt nhân cốt lõi nhằm bảo đảm thu nhập cho người lao động (NLĐ) khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia thị trường lao động. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về BHHT đã liên tục được củng cố qua các mốc lập pháp như Luật BHXH năm 2006 và Luật BHXH năm 2014. Tuy nhiên, trước bối cảnh già hóa dân số diễn ra với tốc độ nhanh, biến động thị trường lao động hậu đại dịch COVID-19 và tình trạng người lao động rút BHXH một lần gia tăng, chính sách BHHT hiện hành đã bộc lộ nhiều điểm bất cập cần được tháo gỡ trong quá trình xây dựng dự án Luật BHXH (sửa đổi) theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Làm sáng tỏ và hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về BHHT, bao gồm khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nguyên tắc pháp lý, cũng như tổng hợp kinh nghiệm lập pháp quốc tế từ các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và một số quốc gia (Hoa Kỳ, Thụy Điển, CHLB Đức) để rút ra bài học cho Việt Nam.
- Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về ba loại hình: BHHT bắt buộc, BHHT tự nguyện và BHHT bổ sung; đồng thời phân tích số liệu thực tiễn thi hành giai đoạn 2016 - 2021 để chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân.
- Đề xuất các yêu cầu, định hướng và hệ thống giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi chế độ BHHT tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành về BHHT và thực tiễn áp dụng các quy định này. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tiếp cận BHHT dưới góc độ pháp lý đối với ba chế định: BHHT bắt buộc, BHHT tự nguyện và BHHT bổ sung; không đi sâu vào các vấn đề thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự và giải quyết tranh chấp. Phạm vi không gian nghiên cứu là thực tiễn tại Việt Nam; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 2016 (thời điểm Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực thi hành) đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Triết học Mác - Lênin), lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, kết hợp với các lý thuyết chuyên ngành luật an sinh xã hội về quyền con người, phân phối lại thu nhập và chia sẻ rủi ro cộng đồng. Hệ thống văn bản pháp lý và tiêu chuẩn quốc tế được sử dụng làm khung tham chiếu bao gồm:
- Khung chuẩn mực quốc tế: Công ước số 102 (1952) về Tiêu chuẩn tối thiểu của ASXH, Công ước số 128 (1967) về Trợ cấp khuyết tật, tuổi già và tiền tuất, Khuyến nghị số 131 (1967) và Khuyến nghị số 202 (2012) về Sàn an sinh xã hội của ILO.
- Khung pháp luật trong nước: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Lao động năm 2019 (Điều 169); Luật BHXH năm 2006; Luật BHXH năm 2014; Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018; Nghị quyết số 93/2015/QH13; Nghị quyết số 69/2022/QH15; các Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, Nghị định số 88/2016/NĐ-CP, Nghị định số 153/2018/NĐ-CP, Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và Nghị định số 24/2023/NĐ-CP.
Các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý được áp dụng đan xen gồm có: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp - khái quát hóa, phương pháp logic pháp lý, và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Thụy Điển, CHLB Đức). Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo chính thức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các ấn phẩm nghiên cứu của ILO.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm hưu trí
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, bản chất và nguyên tắc vận hành của chế độ BHHT:
- Khái niệm và đặc điểm: BHHT được định nghĩa là chế độ BHXH do quỹ BHXH chi trả nhằm bảo đảm thu nhập cho NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động. Chế độ này có 4 đặc điểm cơ bản: (1) Mang tính chất dài hạn nằm ngoài quá trình lao động; (2) Đối tượng tham gia và thụ hưởng rất rộng; (3) Có sự tách biệt giữa quá trình đóng và hưởng với tính chuyển giao thế hệ; (4) Áp dụng chủ yếu cho người hết tuổi lao động hoặc không còn làm việc.
- Các nguyên tắc pháp lý: Khóa luận phân tích 5 nguyên tắc chung của BHXH (mức hưởng tính trên cơ sở đóng - hưởng và có chia sẻ; mức đóng căn cứ vào tiền lương hoặc thu nhập; thời gian đóng bắt buộc và tự nguyện được liên thông, cộng dồn; quỹ hưu trí quản lý thống nhất, minh bạch, hạch toán độc lập; thủ tục thực hiện đơn giản, thuận tiện) và 2 nguyên tắc đặc thù của BHHT (đề cao nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa người thu nhập cao và thu nhập thấp; điều chỉnh hợp lý chế độ hưởng giữa các nhóm lao động nam - nữ và giữa các ngành nghề có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).
- Kinh nghiệm quốc tế: Tác giả phân tích mô hình BHHT của Hoa Kỳ (sử dụng hệ thống tín chỉ bảo hiểm QC với yêu cầu tích lũy 40 QC trong 10 năm, cho phép trì hoãn nhận lương hưu từ 62 đến 70 tuổi để tối ưu hóa mức hưởng, không cho rút một lần), Thụy Điển (kết hợp tài khoản danh nghĩa notional account 16%, tài khoản cá nhân 2,5% và hưu trí nghề nghiệp tư nhân 2 - 4,5% cùng lưới an sinh bảo đảm 90% thu nhập hộ gia đình già), và CHLB Đức (hệ thống 3 trụ cột: BHHT công bắt buộc chiếm 18,6% thu nhập đóng góp chia đôi giữa NLĐ và người sử dụng lao động [NSDLĐ] với mức trần 7.300 Euro/tháng; hưu trí doanh nghiệp; và tích lũy dự phòng cá nhân). Từ đó, khóa luận rút ra 3 bài học cho Việt Nam: xây dựng hệ thống an sinh đa tầng linh hoạt; thúc đẩy hưu trí tư nhân thông qua ưu đãi thuế; và giữ vững vai trò quản lý chủ đạo của Nhà nước.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm hưu trí và thực tiễn thực hiện
Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định hiện hành và khảo sát số liệu thực tế thi hành:
- Về pháp luật thực định:
- BHHT bắt buộc: Quy định đối tượng đóng bắt buộc gồm NLĐ có HĐLĐ từ đủ 01 tháng trở lên, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; mức đóng bằng 8% mức tiền lương tháng của NLĐ và 14% từ NSDLĐ vào quỹ hưu trí và tử tuất. Điều kiện hưởng lương hưu thông thường yêu cầu đủ 20 năm đóng BHXH và đủ tuổi nghỉ hưu theo lộ trình của Bộ luật Lao động năm 2019 (tăng dần để đạt 62 tuổi với nam vào năm 2028 và 60 tuổi với nữ vào năm 2035). Tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa là 75% (nam cần 35 năm đóng, nữ cần 30 năm đóng). NLĐ nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên bị giảm 2% tỷ lệ hưởng cho mỗi năm nghỉ sớm. Mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu đối với số năm đóng vượt mức 75% được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm vượt. Hưởng BHXH một lần được áp dụng theo Điều 60 Luật BHXH năm 2014 và Nghị quyết số 93/2015/QH13 (mức hưởng 1,5 tháng cho năm đóng trước 2014 và 02 tháng cho năm đóng từ 2014 trở đi).
- BHHT tự nguyện: Áp dụng cho công dân từ đủ 15 tuổi trở lên ngoài diện bắt buộc, mức đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn (tối thiểu bằng chuẩn hộ nghèo nông thôn 1,5 triệu đồng/tháng theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP và tối đa bằng 20 lần mức lương cơ sở, tức 36 triệu đồng/tháng theo Nghị định 24/2023/NĐ-CP).
- BHHT bổ sung: Thực hiện theo Nghị định số 88/2016/NĐ-CP dưới hình thức tài khoản hưu trí cá nhân, chi trả định kỳ tối thiểu trong 10 năm (120 tháng) hoặc chi trả một lần khi có đủ điều kiện.
- Thực tiễn thực hiện giai đoạn 2016 - 2021:
| Chỉ tiêu |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
| Số người tham gia BHXH bắt buộc (người) |
12.851.833 |
13.596.146 |
14.455.069 |
15.204.036 |
15.050.944 |
15.097.007 |
| Số người tham gia BHXH tự nguyện (người) |
203.271 |
224.243 |
277.180 |
558.109 |
1.125.236 |
1.449.820 |
| Tỷ lệ BHXH tự nguyện/Lực lượng lao động (%) |
0,43% |
0,47% |
0,58% |
1,18% |
2,31% |
3,25% |
| Tổng số người tham gia BHXH (người) |
13.055.104 |
13.820.389 |
14.732.249 |
15.762.145 |
16.176.180 |
16.546.827 |
| Tỷ lệ bao phủ BHXH/Lực lượng lao động (%) |
27,3% |
28,8% |
30,4% |
32,1% |
33,2% |
36,8% |
| Số người hưởng lương hưu bắt buộc mới (người) |
98.481 |
135.302 |
107.200 |
103.538 |
100.889 |
115.656 |
| Tỷ lệ hưởng trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu (%) |
81,44% |
68,2% |
66,74% |
62,39% |
58,15% |
61,16% |
| Số người hưởng BHXH một lần (người) |
614.461 |
661.161 |
754.333 |
809.210 |
848.851 |
952.851 |
| Tỷ lệ nhận 1 lần/Tổng người tham gia bắt buộc (%) |
4,78% |
4,86% |
5,22% |
5,32% |
5,64% |
6,31% |
Nguồn: Tổng hợp từ Bảng 1, Bảng 2, Bảng 3 trong khóa luận (dữ liệu BHXH Việt Nam và Tổng cục Thống kê).
- Hạn chế và tồn tại:
- Chưa luật hóa hệ thống hưu trí đa tầng: Mức trợ cấp xã hội cho người cao tuổi (NCT) theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP còn thấp (360.000 đồng/tháng), độ tuổi hưởng trợ cấp không đóng góp quá cao (từ 80 tuổi trở lên). Tính đến cuối năm 2021, có khoảng 9,2 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu (chiếm 65%) hoàn toàn chưa được bao phủ bởi bất kỳ tầng trợ cấp hay lương hưu nào.
- Tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa cao (75%) nhưng giá trị tuyệt đối thấp do mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bình quân không cao (năm 2022 bình quân là 5,73 triệu đồng/tháng dẫn đến lương hưu bình quân chỉ đạt khoảng 5,4 triệu đồng/người/tháng).
- Điều kiện thời gian đóng tối thiểu 20 năm là quá dài, gây rào cản cho lao động tham gia thị trường muộn.
- Gia tăng tình trạng rút BHXH một lần (giai đoạn 2016 - 2021 có gần 3,7 triệu người nhận trợ cấp một lần với tốc độ tăng bình quân 6,3%/năm), làm suy giảm độ bao phủ bền vững của hệ thống.
- BHHT tự nguyện còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn so với tiềm năng và chủ yếu là người đã từng tham gia BHXH bắt buộc đóng tiếp cho đủ năm.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về bảo hiểm hưu trí
Chương 3 trình bày các nhóm đề xuất nhằm hoàn thiện khung khổ pháp lý và tổ chức thi hành:
- Kiến nghị hoàn thiện quy định về BHHT bắt buộc: Giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm và hướng tới 10 năm theo Nghị quyết 28-NQ/TW; sửa đổi quy định hưởng BHXH một lần theo hướng siết chặt điều kiện để giữ NLĐ ở lại hệ thống; tăng mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu cho mỗi năm đóng vượt mức 75% từ 0,5 tháng lên mức cao hơn nhằm khuyến khích NLĐ tiếp tục làm việc và đóng góp.
- Kiến nghị hoàn thiện quy định về BHHT tự nguyện: Tăng mức hỗ trợ tiền đóng từ ngân sách nhà nước cho các nhóm đối tượng (đặc biệt là nông dân, lao động nghèo và cận nghèo); bổ sung các chế độ ngắn hạn (như ốm đau, thai sản) để tăng tính hấp dẫn của loại hình tự nguyện.
- Kiến nghị hoàn thiện quy định về BHHT bổ sung: Mở rộng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân để khuyến khích NSDLĐ và NLĐ trích lập quỹ hưu trí bổ sung; đơn giản hóa thủ tục tham gia.
- Kiến nghị khác và nâng cao hiệu quả thực hiện: Luật hóa tầng trợ cấp hưu trí xã hội liên thông với hệ thống BHXH cơ bản; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm tình trạng trốn đóng, chậm đóng và nợ đọng tiền BHXH của doanh nghiệp; đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của NLĐ về rủi ro khi rút BHXH một lần.
Kết quả và đóng góp
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về BHHT, làm rõ mối quan hệ giữa nguyên tắc đóng - hưởng và nguyên tắc chia sẻ rủi ro trong pháp luật an sinh xã hội.
- Cung cấp bức tranh thực trạng chi tiết với hệ thống chuỗi dữ liệu 6 năm (2016 - 2021) về diện bao phủ BHXH (đạt 16,55 triệu người năm 2021), số lượng người nghỉ hưu mới (661 nghìn người bắt buộc, 54 nghìn người tự nguyện) và số lượng người rút BHXH một lần (gần 3,7 triệu người).
- Khái quát kinh nghiệm quốc tế có giá trị so sánh từ Hoa Kỳ, Thụy Điển, CHLB Đức để minh chứng cho yêu cầu thiết kế hệ thống hưu trí đa tầng và đa dạng hóa công cụ tài chính hưu trí.
- Đưa ra các đề xuất lập pháp bám sát định hướng của Nghị quyết số 28-NQ/TW và dự thảo Luật BHXH (sửa đổi), tập trung vào các vấn đề cấp thiết: giảm thời gian đóng tối thiểu xuống 15 năm, hạn chế rút BHXH một lần, và mở rộng diện bao phủ hưu trí xã hội cho người cao tuổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được tiếp cận thuần túy dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Lao động và An sinh xã hội, dựa trên các số liệu thứ cấp giai đoạn 2016 - 2021 và số liệu ước tính đến năm 2023. Do phạm vi xác định, công trình không nghiên cứu sâu về các mô hình toán định phí bảo hiểm (actuarial balance), phương án cân đối quỹ tài chính dài hạn, cũng như các khía cạnh tố tụng trong xử lý vi phạm pháp luật và tranh chấp về BHHT.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá tác động định lượng của Luật BHXH (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành; nghiên cứu cơ chế quản trị và đầu tư tài chính quỹ hưu trí quốc gia nhằm bảo đảm an toàn quỹ trước áp lực lạm phát và già hóa dân số nhanh tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Lao động, Luật An sinh xã hội, Luật Kinh tế và Quản lý công tham khảo về phương pháp phân tích quy phạm và cơ cấu hệ thống an sinh xã hội.
- Cán bộ làm công tác chuyên môn tại cơ quan Bảo hiểm xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và tổ chức Công đoàn các cấp trong việc nắm bắt thực tiễn thi hành và những vướng mắc phát sinh từ cơ sở.
- Các nhà nghiên cứu chính sách tham khảo số liệu giai đoạn 2016 - 2021 cùng các phân tích so sánh kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ, Thụy Điển và CHLB Đức.
Câu hỏi thường gặp
1. Lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo quy định hiện hành áp dụng cho người hưởng chế độ hưu trí tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 135/2020/NĐ-CP, kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong điều kiện bình thường được điều chỉnh tăng theo lộ trình: mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam cho đến khi đủ 62 tuổi vào năm 2028; và mỗi năm tăng thêm 04 tháng đối với lao động nữ cho đến khi đủ 60 tuổi vào năm 2035.
2. Quy định điều kiện thời gian đóng BHXH tối thiểu 20 năm để hưởng lương hưu tạo ra những bất cập gì trong thực tiễn?
Quy định thời gian đóng tối thiểu 20 năm là quá dài, khiến nhiều NLĐ tham gia thị trường lao động muộn (từ 40 - 50 tuổi) hoặc có việc làm không ổn định khó tích lũy đủ thời gian đóng. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều người nản lòng, rời bỏ hệ thống và lựa chọn nhận BHXH một lần thay vì tiếp tục bảo lưu để chờ nhận lương hưu khi hết tuổi lao động.
3. Số liệu hưởng BHXH một lần giai đoạn 2016 - 2021 phản ánh thực trạng gì và nguyên nhân do đâu?
Trong giai đoạn 2016 - 2021, có gần 3,7 triệu người nhận BHXH một lần, số lượng năm sau luôn cao hơn năm trước với mức tăng bình quân 6,3%/năm (từ 614.461 người năm 2016 lên 952.851 người năm 2021). Nguyên nhân chủ yếu do điều kiện nhận BHXH một lần sau 12 tháng nghỉ việc tương đối mở; nhu cầu tài chính trước mắt của NLĐ; tâm lý lo ngại trước tình trạng doanh nghiệp trốn đóng, nợ đọng BHXH; và nhận thức chưa đầy đủ về lợi ích dài hạn của lương hưu kết hợp thẻ BHYT miễn phí khi về già.
4. Hệ thống bảo hiểm hưu trí của CHLB Đức và Thụy Điển có những đặc thù gì đáng chú ý?
Hệ thống hưu trí CHLB Đức vận hành theo 3 trụ cột (BHHT công bắt buộc 18,6% chia đôi NLĐ - NSDLĐ, hưu trí doanh nghiệp và tích lũy cá nhân), không cho phép chi trả một lần và xác định lương hưu thông qua hệ số điểm lương tích lũy nhân với giá trị tiền tệ điểm hưu trí (37,6 Euro). Thụy Điển áp dụng mô hình tài khoản hưu trí danh nghĩa (notional account 16%) kết hợp tài khoản cá nhân thực tế (2,5%) và chương trình hưu trí nghề nghiệp (2 - 4,5%), cùng mạng lưới an sinh xã hội bảo đảm thay thế tới 90% thu nhập của hộ gia đình già.
5. Thực trạng tỷ lệ bao phủ hưu trí đối với người cao tuổi tại Việt Nam tính đến năm 2021 ra sao?
Tính đến cuối năm 2021, trong tổng số khoảng 14,2 triệu người sau độ tuổi nghỉ hưu, chỉ có khoảng 3,2 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng (chiếm 22,1%). Nếu tính cả hơn 1,8 triệu người nhận trợ cấp hưu trí xã hội thì tổng cộng có khoảng 5,1 triệu người (chiếm 35%) có nguồn thu nhập định kỳ; còn lại khoảng 9,2 triệu người cao tuổi (chiếm 65%) hoàn toàn chưa được bao phủ bởi lưới an sinh hưu trí.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng Thu Quỳnh đã phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận, đánh giá chi tiết thực trạng pháp luật và dữ liệu thực tiễn thi hành chế độ bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và các mục tiêu của Nghị quyết số 28-NQ/TW, công trình đã đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp xác đáng nhằm hạ điều kiện thời gian đóng tối thiểu, hạn chế rút bảo hiểm xã hội một lần và hình thành hệ thống hưu trí đa tầng. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, mang tính thời sự và có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện chính sách pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam.