Chương 1 sẽ tập trung vào phân tích ―Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài‖. Ở đây luận án sẽ điểm luận những công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trong và ngoài nƣớc liên quan đến chủ đề nghiên cứu và rút ra khoảng trống học thuật mà luận án sẽ tham vọng khỏa lấp. 6 Chương 2, luận án sẽ tập trung vào nội dung ―Cơ sở lý luận về bảo đảm tài chính cho hệ thống hƣu trí‖. Chƣơng này có nhiệm vụ quan trọng là xây dựng khung phân tích để đánh giá việc đảm bảo tài chính cho hệ thống hƣu trí nói chung.
Chương 3 sẽ tập trung vào nội dung ―Thực trạng bảo đảm tài chính cho hệ thống hƣu trí ở Anh, Đức và Thuỵ Điển‖. Đây là nội dung chính của luận án với việc phân tích, đánh giá thực trạng đảm bảo tài chính ở 3 nƣớc trên và có những so sánh với nhau. Chương 4 sẽ tập trung vào nội dung ―Một số đánh giá so sánh và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam‖. Chƣơng này sẽ nghiên cứu hệ thống hƣu trí của Việt Nam, một số so sánh với các nƣớc châu Âu và cuối cùng là rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc đảm bảo tài chính cho hệ thống hƣu trí.
7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Nghiên cứu về hệ thống hƣu trí mặc dù không phổ biến nhƣ nghiên cứu về hệ thống an sinh xã hội nhƣng cũng đƣợc nhiều học giả quan tâm. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề về tài chính cho hệ thống hƣu trí hay các quỹ hƣu trí. Đặc biệt các nƣớc châu Âu là những nƣớc có hệ thống an sinh xã hội phát triển lâu đời, nên đƣợc coi nhƣ trƣờng hợp điển hình của thế giới.
Tại Việt Nam, những năm gần đây đã xuất hiện một số nghiên cứu về hệ thống hƣu trí và quỹ hƣu trí. Các nghiên cứu đã có những đánh giá các vấn đề của hệ thống hƣu trí Việt Nam. Sau đây là những công trình tiêu biểu trong các nghiên cứu đã công bố. Các công trình bàn về hệ thống an sinh xã hội, hưu trí và tài chính của an sinh xã hội Hệ thống hƣu trí là một bộ phận của hệ thống an sinh xã hội.
Nền tảng của hệ thống hƣu trí đƣợc quyết định bởi nền tảng của hệ thống an sinh xã hội của quốc gia đó. Vì vậy, tổng quan nghiên cứu của luận án sẽ đi từ những vấn đề của an sinh xã hội. Trƣớc tiên, an sinh xã hội đƣợc định nghĩa theo nhiều cách bởi các tổ chức, nhà nghiên cứu và ở các nƣớc là khác nhau. Thuật ngữ an sinh xã hội lần đầu tiên đƣợc xuất hiện trong Tổ chức Lao động quốc tế vào năm 1941.
Khái niệm ASXH theo ILO đƣợc coi là chính thống và đƣợc sử dụng tham khảo ở nhiều quốc gia. Theo đó, an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do ngừng hoặc giảm thu nhập, do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thƣơng tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. Mục tiêu chung của an sinh xã hội là vậy, nhƣng dƣới điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau thì các nƣớc sẽ xây dựng các mô hình an sinh xã hội khác nhau. Trong nghiên cứu của Ipek Eren Vural (2011) và Johannes Hagen (2013) chỉ ra rằng các nƣớc trên thế giới đều xây dựng hệ thống an sinh xã hội của mình theo hai mô hình: mô hình an sinh xã hội Beveridge và mô hình an sinh xã hội Bismark.
Trong khi mô 8 hình Bismark đƣợc đƣa ra bởi Thủ tƣớng Đức Otto von Bismarck với mục tiêu ban đầu là xây dựng hệ thống an sinh xã hội dành cho ngƣời lao động thì mô hình Beveridge đến từ nƣớc Anh lại có mục tiêu rộng hơn là phổ cập toàn diện. Đặc biệt, trong khi mô hình Bismark có nguồn đóng góp tài chính dựa vào thu nhập còn mô hình Beveridge phân phối từ thuế, ngân sách nhà nƣớc. Mô hình Bismark không đƣợc tài trợ từ Nhà nƣớc nhƣng Nhà nƣớc có vai trò cam kết tính bền vững của các quỹ bảo hiểm. Theo đó, Nhà nƣớc sẽ đứng ra hỗ trợ nếu các quỹ Bảo hiểm xã hội mất khả năng thanh toán.
Ngƣợc lại với mô hình đó, mô hình Beveridge phụ thuộc chủ yếu vào sự hỗ trợ của Nhà nƣớc. Mục tiêu của mô hình này là bao phủ toàn diện các dịch vụ an sinh xã hội cho ngƣời dân với mức chi trả nhƣ nhau và đƣợc quản lý tập trung, thống nhất. Đây là một trong những nguyên tắc để cải cách hệ thống an sinh xã hội cũ, theo đúng nguyên tắc của ILO, là thống nhất, phổ cập, toàn diện. Trong mô hình này, ngƣời lao động chỉ phải đóng mức tối thiểu, nguồn quỹ không đủ để hỗ trợ cho cuộc sống nên mô hình này phụ thuộc nhiều vào sự tài trợ của Nhà nƣớc [81], [86].
Tài chính của hệ thống an sinh xã hội là một trong những vấn đề phức tạp bởi nó liên quan trực tiếp đến sự bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nguồn thu của hệ thống an sinh xã hội đến từ nhiều nguồn khác nhau. Tác giả Michael Cihon & nhóm tác giả (2012) đã chỉ ra có nhiều nguồn thu tài chính cho hệ thống an sinh xã hội, bao gồm thuế, đóng góp bởi ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động, nguồn thu từ đầu tƣ và một số nguồn thu khác, phụ thuộc vào tính chất các chƣơng trình an sinh xã hội khác nhau và mục tiêu của từng hệ thống an sinh xã hội. Trên thực tế, hệ thống hƣu trí đƣợc xây dựng dựa trên các mô hình tài chính khác nhau nhƣ chƣơng trình tài chính có mức đóng xác định, mô hình tài chính có mức hƣởng xác định…[97].
Tuy vậy, theo nghiên cứu của OECD (2015) về hệ thống hƣu trí của các nƣớc OECD và các nền kinh tế lớn khác chỉ ra rằng, mô hình tài chính cho hệ thống hƣu trí của các quốc gia đƣợc áp dụng phụ thuộc vào mục tiêu của từng cấu phần của hệ thống hƣu trí. Theo đó, nghiên cứu này cho rằng, hệ thống hƣu trí bao gồm ba lớp, lớp đầu tiên là bắt buộc nhằm cung cấp thu nhập tối thiểu cho ngƣời về hƣu, bao gồm, hƣu trí cơ bản, hỗ trợ xã hội thông qua phƣơng pháp thẩm tra tài chính, hƣu trí tối thiểu; lớp thứ hai là bắt buộc, đƣợc xây dựng nhằm mục đích tích lũy tài sản, đƣợc chia làm hai loại là công và tƣ và cũng bao gồm các mô hình khác nhau nhƣ chƣơng trình theo 9 mức hƣởng xác định, chƣơng trình theo mức đóng xác định, chƣơng trình tính điểm và chƣơng trình NDC; lớp cuối cùng hƣu trí tự nguyện, nhằm mục đích tiết kiệm thƣờng áp dụng theo mô hình có mức đóng xác định hoặc mô hình có mức hƣởng xác định [109]. Những nghiên cứu đầu tiên về tài chính đƣợc phát triển bởi Magazzino và nhóm tác giả (2015) sử dụng định luật Wagner và Hiệu ứng dịch chuyển của Peacock và Wiseman khi nghiên cứu chi tiêu công ở Anh trong một thời gian dài từ năm 1891 đến năm 1955 dựa trên định luật Wagner và Hiệu ứng dịch chuyển của Peacock và Wiseman. Kết luận của nhóm tác giả là mặc dù chi tiêu công ở một nƣớc sẽ tăng khi xã hội phát triển hơn nhƣng mức độ tăng còn phụ thuộc lớn vào ngân sách thu đƣợc[99].
Ngoài ra, một số nghiên cứu khác của Karen M. Anderson (2015) đã phân tích những chính sách an sinh xã hội ở EU, trong đó có chính sách hƣu trí và việc làm. Có thể thấy, EU đã xây dựng một chính sách chung cho các nƣớc thành viên nhƣng các nƣớc đều có những điều chỉnh riêng để phù hợp với điều kiện của từng đất nƣớc [87]. Tƣơng tự nhƣ vậy, Caroline Dieckhoener &Andreas Peichl (2009) đã cho thấy những chính sách hƣu trí khác nhau của ba nƣớc Hy Lạp, Anh Quốc và Đan Mạch thông qua việc áp dụng các mô hình tài chính của ba nƣớc này vào hệ thống của Đức, vốn đang gặp những vấn đề về tài chính [48].
Tƣơng tự nhƣ vậy, tác giả Lawrence H. Thompson đã phân tích những ƣu và nhƣợc điểm của các mô hình an sinh xã hội khác nhau về vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn vốn hành chính. Bài báo kết luận mỗi mô hình có những ƣu, nhƣợc điểm riêng và đƣa ra một phƣơng pháp để phân tích các vấn đề này [94]. Ngoài ra, cũng có một số tài liệu nghiên cứu về các biện pháp nhằm bảo đảm sự bền vững của hệ thống an sinh xã hội nhƣ nghiên cứu của Sagiri Kitao (2011) đã đƣa ra nhận định về những khó khăn trong việc đảm bảo sự bền vững của hệ thống an sinh xã hội ở Mỹ trong thời gian tới đây do sự thay đổi về dân số.
Nghiên cứu đã đƣa ra bốn cách để đảm bảo sự bền vững của hệ thống, bao gồm: tăng thuế 6 đơn vị phần trăm; giảm tỉ lệ thay thế của lợi ích xuống 1/3; tăng tuổi nghỉ hƣu từ 66 lên 73; lợi ích của phƣơng pháp thẩm tra tài sản và giảm chúng còn 1 đổi 1 so với thu nhập [130]. Trong khi đó, Kenneth A. Lewis và Laurence S. Các công trình bàn về hệ thống hưu trí và quỹ hưu trí nói chung Nhóm công trình bàn về yếu tố ảnh hƣởng đến sự bền vững của hệ thống hƣu trí Một nghiên cứu khác của Munnell A.
(2008) tập trung vào vấn đề tài chính công đƣợc đƣa ra bởi nhà kinh tế học Richard Musgrave lần đầu tiên vào năm 1959 và đƣợc tập trung hơn vào năm 1981. Đây là một nghiên cứu quan trọng đƣợc sử dụng trong nhiều nghiên cứu sau này cho việc đảm bảo tài chính cho an sinh xã hội, đặc biệt là đƣợc xem xét nhiều trong hệ thống an sinh xã hội của Mỹ. Nghiên cứu này đã cho thấy tầm quan trọng của việc liên kết giữa các thế hệ trong an sinh xã hội và thuế quỹ lƣơng (payroll tax) đƣợc coi là phƣơng pháp chủ yếu mang đến sự thành công cho an sinh xã hội ở Mỹ. Thuế quỹ lƣơng tuy vậy lại mang tính hồi quy, do vậy dẫn đến nhiều vấn đề cho hệ thống an sinh xã hội.
Do đó, theo tác giả, thay vì thu thuế quỹ lƣơng nhƣ nghiên cứu thì nên có một tỉ lệ thu chung theo mức độ thu nhập [28].