CHƯƠNG 1 SỰ ĐỘC LẬP CỦA THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN LÀ BẢO ĐẢM QUAN TRỌNG CHO SỰ ĐỘC LẬP TƯ PHÁP 1. Tòa án độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật là đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền 1. Vị trí, vai trò của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cho thấy phạm vi thực hiện quyền lực nhà nước thể hiện ở ba loại quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quyền tư pháp, trong bản chất cơ bản của nó, thể hiện qua việc thực thi công lý qua hoạt động xét xử được thực hiện bởi cơ quan tư pháp là Tòa án.
Tính tất yếu của việc thực hiện vai trò xét xử của Tòa án đã được thể hiện ngay từ thời kỳ cổ Hy Lạp, La Mã với quan điểm: ở đâu có luật pháp, thì ở đó phải có một hệ thống bảo vệ cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh. Sự bảo đảm này chính là Tòa án là cơ quan trong bộ máy nhà nước có chức năng tư pháp. Tuy nhiên, ở mỗi một dạng Nhà nước có chế độ chính trị khác nhau, bộ máy Nhà nước được tổ chức khác nhau thì địa vị, vai trò của Tòa án cũng có khác nhau. Ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, hình thái xã hội chủ yếu là phong kiến, hoạt động xét xử cũng như các hoạt động lập pháp và hành pháp chủ yếu tập trung ở giai cấp nô lệ và phong kiến mà đại diện là Vua.
Chính vì thế, nhà Vua là người có quyền hạn cao nhất trong quá trình cai trị đất nước, nhà Vua là người đề ra các điều luật và cũng là người có thẩm quyền xét xử cao nhất. Chính vì việc tập trung quyền lực vào nhà Vua như vậy nên có thể nói hoạt động xét xử và thiết chế Tòa án ở thời kỳ phong kiến chưa được thể hiện rõ nét vị trí, vai trò độc lập của Tòa án đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. 10 Vào thế kỷ XVII và XVIII, sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp tư sản, đặc trưng cho phương thức sản xuất tiên tiến của thời đại và xu thế chính trị tiến bộ đã dẫn đến những quan điểm cần có cơ chế nhằm hạn chế quyền lực vô hạn của nhà Vua và đi đến xóa bỏ Nhà nước phong kiến đã lỗi thời. Các học giả tư sản nêu rõ quan niệm về việc phân chia trong hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động ban hành các văn bản pháp luật và hoạt động xử lí các hành vi trái pháp luật và trên cơ sở ấy phân chia quyền lực Nhà nước ra thành các nhóm quyền lực khác nhau.
Tiêu biểu cho giới học giả tư sản thời kỳ này là Montesquieu với quan điểm phân tách quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp và những quyền này có sự độc lập và phụ thuộc lẫn nhau. Tư thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu sau này đã được phát triển thành bộ thuyết “Tam quyền phân lập” và thực hiện phổ biến trong tổ chức quyền lực nhà nước ở các nhà nước tư sản. Theo quan điểm của Montesquieu thì: “Khi quyền lập pháp được sát nhập với quyền hành pháp và tập trung trong tay một người hay một tập đoàn, thì sẽ không có tự do được, bởi vì người ta có thể sợ rằng chính nhà vua hay nghị viện sẽ làm những đạo luật độc đoán để thi hành một cách độc đoán; nếu quyền xét xử được nhập vào quyền hành pháp thì Thẩm phán sẽ trở thành những kẻ áp bức”[1, Trang 81]. Montesquieu cũng nhấn mạnh: “Mọi thứ sẽ bị biến mất cả nếu chính một người, hay chính một tập đoàn các thân hào hay các quý tộc hay bình dân hành sự cả ba quyền: quyền làm luật, quyền thi hành các quyết nghị chung và quyền xét xử các tội phạm hay các vụ tranh chấp giữa các tư nhân”[1, Trang 85].
Theo quan điểm của Montesquieu thì để đảm bảo tính pháp quyền trong hoạt động của bộ máy nhà nước, Tòa án phải được tổ chức độc lập, tham gia vào cơ chế đối trọng và chế ước, kiểm soát lẫn nhau trong mối quan hệ với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp và hành pháp. Nếu Tòa án không được tổ 11 chức độc lập thì sẽ trở thành nguy cơ cho quốc gia và quyền tự do của công dân. Một bộ máy Nhà nước, một cơ quan cầm quyền, vừa là kẻ thi hành luật, vừa cho mình là kẻ lập pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung và sai lầm của họ; họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ [1, Trang 107].
Như vậy, Tòa án là cơ quan bảo vệ pháp luật cao nhất, đảm bảo công lý và khách quan trong việc giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội theo quan niệm của giai cấp tư sản. Không chỉ là hoạt động của cá nhân, của công dân mà đối tượng xét xử của Tòa án cũng bao gồm cả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy tính độc lập của Tòa án trong Nhà nước tư sản còn phụ thuộc rất nhiều vào chính thể (Ví dụ: ở chính thể Cộng hòa đại nghị thì quyền lực tư pháp có vị thế yếu hơn. Bởi vì, dưới thể chế Cộng hoà đại nghị, nghị viện do cử tri bầu chọn ra và chính đảng nào nắm đại đa số ghế sẽ cử người đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng và thiết lập nội các và vì thế cơ quan hành pháp là cơ quan quyền lực rộng).
Hơn nữa, khi đối chiếu về tính chất giữa ba nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp và tư pháp) trong bộ máy của Nhà nước pháp quyền, thì có thể nhận ra: nhánh quyền lập pháp không những có thẩm quyền quản lý ngân sách mà còn có thẩm quyền ra các luật lệ điều tiết tài sản của công dân. Quyền hành pháp không những có thẩm quyền ra các quyết sách hành chính để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, vừa có thẩm quyền điều tiết hoạt động và sức mạnh của xã hội, cũng như thẩm quyền dùng vũ lực nhằm đảm bảo quyền lực Nhà nước. Ngược lại, quyền tư pháp không được phép nắm giữ và sử dụng cơ quan cưỡng chế, không tham gia vào việc quản lý tài chính, cũng không có quyền điều khiển tài sản và sức mạnh của xã hội, Trong quá trình nghiên cứu về bản chất của quyền tư pháp một học giả tư sản là A.Hamiton đã viết: “Có thể nói rằng ngành tư pháp vừa không có lực lượng, lại vừa không 12 có ý chí mà chỉ có trí phán đoán mà thôi, và cần dựa vào trợ tá của ngành hành pháp mới có thể thi hành quyết định trí phán đoán của mình”[38, Trang 250]. Tuy nền dân chủ tư sản phát triển, nhưng ở chính thể Cộng hòa tổng thống, quyền tư pháp có khả năng bền vững hơn.
Chính thể này phân định rõ ràng giữa quyền lập pháp và hành pháp, với Nghị viện và Tổng thống (thể hiện sự độc lập thông qua bầu cử trực tiếp của cử tri và đại cử tri) cùng chi phối quyền lực thứ ba là quyền tư pháp. Sự độc lập của hai cơ quan này đảm bảo quyền lực tư pháp không phụ thuộc vào một cơ quan duy nhất, giữ cho cơ quan tư pháp hoạt động độc lập. Đối tượng và phạm vi hoạt động của quyền tư pháp cũng thay đổi theo thời gian và phát triển của nền dân chủ tư sản. Ban đầu, Tòa án chỉ xét xử “dân đen” vì họ cho rằng chỉ có thần dân mới vi phạm pháp luật của giai cấp tư sản, trong khi pháp luật là lợi ích và công cụ của giai cấp này.
Ngược lại, những người “áo dài, mũ cao” được miễn trừ khỏi tư pháp do hoạt động của họ được coi là mẫu mực và không vi phạm pháp luật. Nhưng cùng với sự phát triển của nền dân chủ tư sản thì các quan chức cũng phải chịu trách nhiệm về những hoạt động vi phạm pháp luật của mình và cũng là đối tượng xét xử của Tòa án. Tương tự như vậy, trong nhà nước tư sản, ban đầu phạm vi xét xử của Tòa án là các vi phạm pháp luật chiếu theo các đạo luật, nhưng thường về sau thì phạm vi xét xử của Tòa án được mở rộng cả đối với các vi phạm Hiến pháp, về vấn đề này, ở Hoa Kỳ, David Cusman Coyle cho rằng trong buổi ban đầu của nền cộng hòa, Tòa án không phải trực tiếp đương đầu với vấn đề phải làm gì khi chính quyền vi phạm Hiến pháp, Hiến pháp đã được chấp thuận như “luật pháp tối thượng của đất nước”. Tuy nhiên, do vì quyền lợi của các nhóm và các mục đích khác nhau cho nên càng ngày càng có nhiều hành động xâm phạm Hiến pháp và cần có quyền xét xử của Tòa án, và vì thế Tòa án Hiến pháp ra đời bên cạnh các Tòa án thường.
Đồng thời, cùng với sự tiến bộ của xã hội đã hình thành nhiều quan hệ kinh tế, thương mại, hành chính và những quan hệ 13 xã hội khác mà Nhà nước cần can thiệp, cho nên Tòa án về tư pháp hình sự thì các Tòa án với nhiệm vụ xét xử các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, hành chính đã ra đời. Chính vì thế, đối với nhà nước phong kiến, Tòa án không những là một phần của bộ máy Nhà nước nhằm xét xử các hành vi là tội ác, bênh vực giai cấp thống trị mà Tòa án còn là sự nối dài cánh tay Nhà nước để can thiệp giải quyết các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, hành chính. Như vậy, lịch sử phát triển về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cho thấy xét xử là một trong những phương thức thực hiện quyền lực Nhà nước và Tòa án chính là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, một thiết chế đảm bảo công lý, sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong đời sống xã hội. Ở nước ta, Tòa án luôn giữ vai trò trung tâm trong hệ thống các cơ quan tư pháp.
Điều này thể hiện cả trong các nghị quyết của Đảng, lịch sử phát triển của pháp luật nước ta và trong thực tiễn hoạt động tư pháp.