Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI Ở VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa gia đình và người chưa thành niên 1. Khái niệm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Khái niệm người dưới 18 tuổi Ý thức về việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử của nhân loại. Trẻ em là những đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm lý, do đó cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt.
Từ thế kỷ XIV, XV, ở Châu Âu đã xuất hiện những dự án công cộng dành cho trẻ em, chẳng hạn như bệnh viện Spedale Degli Innocenti ở Florent (Italia). Bệnh viện này được thành lập vào năm 1445 với mục đích chăm sóc cho trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ở Châu Á, trong thời kỳ này, tại Trung Quốc dưới thời nhà Minh (1368-1644), nhà nước đã ban hành một số quy định về bảo vệ trẻ em, như cấm trẻ em dưới 10 tuổi đi làm, cấm đánh đập trẻ em, và bắt buộc cha mẹ phải nuôi dưỡng con cái. Hay tại Nhật Bản dưới thời Muromachi (1336-1573), một số lãnh chúa phong kiến đã ban hành các quy định về bảo vệ trẻ em, như cấm trẻ em dưới 12 tuổi đi làm, và bắt buộc cha mẹ phải nuôi dưỡng con cái.
Ở Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông ban hành vào thế kỷ XV cũng chứa đựng nhiều quy định về bảo vệ trẻ em. Cụ thể, nó đã quy định trách nhiệm của các quan lại địa phương phải giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, bao gồm trẻ em tàn tật, mồ côi hoặc nghèo khổ, và cũng đã đề ra các biện pháp để bảo vệ trẻ em khỏi các loại xâm hại và áp 12 lực, quy định trừng trị tội gian dâm với trẻ em gái, tội buôn bán phụ nữ, trẻ em [24, tr. Đến nay, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã có nhiều quy định nhằm bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Ví dụ, ở Việt Nam, theo BLDS năm 2015, hầu hết các quan hệ pháp luật dân sự, các giao dịch dân sự của người chưa thành niên đều phải thông qua người đại diện hoặc người giám hộ.
Trong bối cảnh tình hình tội phạm gia tăng và diễn biến phức tạp, pháp luật TTHS đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em khỏi sự xâm hại và có hướng xử lý phù hợp đối với những trẻ em phạm tội. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ luật TTHS năm 2015 của Việt Nam đã có nhiều quy định quan trọng và dành hẳn một chương riêng để ghi nhận thủ tục TTHS đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, qua thực tiễn ở trên thế giới và ở Việt Nam, có thể thấy trong hệ thống pháp luật đang đồng thời sử dụng các thuật ngữ như “trẻ em”, “người chưa thành niên” và “người dưới 18 tuổi”. Vậy khái niệm người dưới 18 tuổi có gì khác biệt so với hai khái niệm còn lại? Theo Từ điển Anh ngữ Oxford, thuật ngữ “người chưa thành niên” (juvenile) thường được sử dụng để ám chỉ thanh thiếu niên (young person) hoặc thanh niên (youth) [49].
Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Điều 2. Nói cách khác, khái niệm người chưa thành niên theo định nghĩa của Quy tắc Bắc Kinh bao gồm trẻ em và thanh thiếu niên mà có thể chịu xử lý theo các quy định pháp luật hình sự và TTHS đặc thù, khác với các quy định với người đã trưởng thành trong quá trình xử lý tội phạm [11, tr. 13 Trước đây, một số tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc như UNESCO, ILO, UNFPA. thường coi trẻ em là người dưới 15 tuổi [26, tr.
Tuy nhiên, hiện nay, các tổ chức này và các tổ chức quốc tế khu vực đều thống nhất theo cách định nghĩa về trẻ em của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, trong đó coi trẻ em là người dưới 18 tuổi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989) [22]. Tóm lại, theo quan điểm của các tổ chức quốc tế, khái niệm trẻ em và người chưa thành niên có sự khác biệt nhất định, nhưng cũng có những điểm tương đồng đó là về độ tuổi (đều là người dưới 18 tuổi). Cả hai khái niệm đều chỉ những người chưa trưởng thành, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt. Ở Việt Nam, Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi [35].
Khái niệm này được xây dựng dựa cách hiểu không chính xác về định nghĩa trẻ em trong Điều 1 của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, theo đó trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn. Thực chất, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em chỉ quy định một cách thống nhất về độ tuổi được coi là trẻ em (dưới 18 tuổi); trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn (ví dụ như tuổi có quyền sở hữu tài sản riêng, tuổi được tham gia lao động…) là để tăng cường khả năng hưởng thụ quyền của trẻ em, nhưng không có nghĩa là quốc gia có thể xác định trẻ em theo một độ tuổi thấp hơn so với mốc 18 (ví dụ như từ 16 tuổi theo quy định của pháp luật Việt Nam), bởi nếu 14 hiểu như vậy sẽ loại trừ quyền của một số lượng trẻ em nhất định (trong trường hợp của Việt Nam là những trẻ em từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi). Về khái niệm người chưa thành niên, khoa học pháp lý Việt Nam đang sử dụng thuật ngữ này trong một số văn bản quy phạm pháp luật của nhiều ngành luật. Ví dụ, theo BLDS năm 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi [32].
Khái niệm này được sử dụng nhằm xác định năng lực pháp luật của những người chưa đủ 18 tuổi. BLLĐ năm 2019 sử dụng khái niệm lao động chưa thành niên để chỉ những người lao động từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi. BLHS và Bộ luật TTHS năm 2015 trước đây cũng sử dụng khái niệm người chưa thành niên (là những người dưới 18 tuổi) nhưng hiện nay đã thay bằng khái niệm người dưới 18 tuổi nhằm xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và độ tuổi áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt đối với người phạm tội. Việc sử dụng các thuật ngữ khác nhau để chỉ những người chưa trưởng thành là hợp lý và có cơ sở pháp lý (phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em).
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, dù là trẻ em, người chưa thành niên hay người dưới 18 tuổi thì đều là những đối tượng dễ bị tổn thương, chưa trưởng thành, chưa hoàn thiện về tâm sinh lý nên cần được quan tâm và bảo vệ đặc biệt. Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, người dưới 18 tuổi có thể được xác định qua hai tiêu chí: Một là về mức độ trưởng thành, đó là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần (tiêu chí về khoa học, cụ thể là y học, sinh học, tâm lý học.); Hai là về độ tuổi pháp lý, đó là người dưới 18, mốc tuổi của những người chưa có đầy đủ quyền và lợi ích của công dân nhưng được hưởng sự bảo vệ đặc biệt theo pháp luật [6, tr. Cũng từ những phân tích ở trên, có thể rút ra định nghĩa: “Người dưới 18 tuổi là đối tượng dễ bị tổn thương do chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như tâm lý, sinh lý, vì vậy tuy chưa đủ năng lực hành vi thực hiện các 15 quyền, nghĩa vụ pháp lý như những người đã thành niên nhưng được pháp luật bảo vệ đặc biệt”. - Khái niệm bảo đảm quyền của người dưới 18 tuổi Theo Từ điển tiếng Việt thì “quyền” được hiểu là “Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hướng, được làm, được đòi hỏi” [28, tr.
Quyền của người dưới 18 tuổi là những giá trị, nhu cầu và lợi ích hợp pháp vốn có của người dưới 18 tuổi, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và quốc gia được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Người dưới 18 tuổi là nhóm người dễ bị tổn thương, được quan tâm bảo vệ không chỉ bằng pháp luật quốc gia mà còn bởi các quy định của pháp luật quốc tế. Do đó, khi nghiên cứu về quyền con người của người dưới 18 tuổi, chúng ta có thể tiếp cận các quyền này ở hai góc độ là pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Ở góc độ pháp luật quốc tế, như đã đề cập, khái niệm người chưa thành niên và trẻ em đồng nhất với nhau về độ tuổi (đều là người chưa đủ 18 tuổi).
Do đó, khi nghiên cứu về quyền con người của người chưa đủ 18 tuổi trong pháp luật quốc tế về cơ bản chính là nghiên cứu về quyền con người của trẻ em được ghi nhận tại Công ước về quyền trẻ em (Convention on the Rights of the Child) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1989. Công ước về quyền trẻ em là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên quy định toàn diện và hệ thống về quyền con người của trẻ em. Công ước bao gồm 54 điều khoản, được chia thành 4 phần chính. Một số quyền con người cơ bản của trẻ em được ghi nhận tại Công ước về quyền trẻ em bao gồm: Trẻ em có quyền được sống và được hưởng cuộc sống khỏe mạnh; Trẻ em có quyền được chăm sóc, giáo dục và bảo vệ từ gia đình, nhà nước và xã hội; Trẻ em có quyền tham gia vào các hoạt động của gia đình, xã hội và quốc gia… [22].
Ở góc độ pháp luật quốc gia, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán trong 16 việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người.