phần mở đầu, 3 chƣơng, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo Chƣơng 1: Cơ sở lý luận pháp lý của quyền khiếu nại của công dân. Chƣơng 2: Thực trạng bảo đảm quyền khiếu nại của công dân tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền khiếu nại của công dân trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LÝ CỦA QUYỀN KHIẾU NẠI CỦA CÔNG DÂN 1. Khái niệm và đặc điểm quyền khiếu nại của công dân 1.
Khái niệm quyền khiếu nại của công dân Quyền con ngƣời là một giá trị xã hội rƣờng cột của nhà nƣớc pháp quyền, thể hiện những khát vọng về quyền và tự do của nhân dân, của con ngƣời. Quyền con ngƣời mang tính phổ biến nhƣng cũng thể hiện nét đặc thù trong cả hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Ở Việt Nam, các quyền con ngƣời về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội đƣợc tôn trọng và bảo đảm, thể hiện ở các quyền công dân và đƣợc quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Một trong những quyền chính trị quan trọng của công dân đƣợc Hiến pháp Việt Nam ghi nhận là quyền khiếu nại, đƣợc cụ thể hóa tại Điều 30 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [24, tr.
Khái niệm công dân xuất hiện cùng với khái niệm về nhà nƣớc và pháp luật nhƣng nó chỉ trở thành thuật ngữ pháp lý và đƣợc ghi nhận trong các đạo luật cơ bản của nhà nƣớc kể từ khi nhà nƣớc tƣ sản ra đời. Công dân chính là khái niệm để chỉ cá nhân trong các mối quan hệ cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất với một nhà nƣớc nhất định đƣợc thể hiện trong Hiến pháp và pháp luật của nhà nƣớc đó. Khái niệm công dân ra đời từ lâu trong lịch sử và đƣợc sử dụng rộng rãi trong xã hội tƣ sản và xã hội chủ nghĩa. Nội dung của khái niệm công dân chính là địa vị pháp lý giữa cá nhân công dân trong mối quan hệ với nhà nƣớc và xã hội.
Địa vị pháp lý biểu hiện ở chỗ nhà nƣớc ghi nhận và thừa nhận cá nhân công dân có các quyền và nghĩa vụ công dân nhƣ thế nào trong mối quan hệ với nhà nƣớc đƣợc quy định trong Hiến pháp và pháp luật. 8 Công dân là ngƣời dân của một nhà nƣớc, có mối quan hệ pháp lý ràng buộc với nhà nƣớc đó trên cơ sở quốc tịch, thể hiện thông qua việc nhà nƣớc đảm bảo cho công dân đƣợc hƣởng quyền trên thực tế, ngƣợc lại công dân cũng có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ với nhà nƣớc và tuân thủ pháp luật do nhà nƣớc quy định. Có thể nói, quyền công dân không phải là hình thức toàn diện của quyền con ngƣời. Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nƣớc, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với nhà nƣớc, đƣợc xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên đƣợc pháp luật của một nƣớc ghi nhận và bảo đảm, nhƣng chủ yếu dành cho những ngƣời có quốc tịch của nƣớc đó.
Không phải ai cũng đƣợc hƣởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định và không phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống nhau, cũng nhƣ đều hoàn toàn tƣơng thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con ngƣời. Ai sinh ra trên thế giới đều đƣợc hƣởng món quà của tạo hóa đó là quyền con ngƣời, đây không còn là khái niệm xa lạ trong lịch sử pháp luật của nhân loại. Tƣ tƣởng này đã đƣợc chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong trong bản tuyên ngôn độc lập nƣớc ta, đƣợc đọc vào ngày 2/9/1945: “Tất cả mọi ngƣời sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm đƣợc; trong những quyền ấy có quyền đƣợc sống, quyền tự do và quyền mƣu cầu hạnh phúc”.
Đất nƣớc ta đã trải qua lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nƣớc cùng với các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, các bản Hiến pháp trên đã ghi dấu lại sự tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời. Trên cơ sở nhận thức pháp lý ngày càng sâu sắc và thực hiện công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời mà Việt Nam ký kết hoặc tham 9 gia, Hiến pháp 2013 một lần nữa lại khẳng định việc thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con ngƣời một cách mạnh mẽ, rõ ràng và hiện đại nhất. Mục tiêu quan trọng nhất của Hiến pháp 2013 là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm quyền công dân, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con ngƣời, quyền công dân, đánh dấu bƣớc phát triển mạnh mẽ trong tƣ duy lý luận của Đảng và Nhà nƣớc ta trong một số vấn đề của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nƣớc trong đó có vấn đề quyền con ngƣời, quyền công dân.
Chỉ thị số 12/CT- TW của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng năm 1992 về vấn đề quyền con ngƣời và quan điểm, chủ trƣơng của Đảng ta xác định quyền con ngƣời là mục tiêu, động lực của sự phát triển, là bản chất của chế độ ta, Chỉ thị xác định: “Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) cũng chỉ rõ: “quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết”. Khẳng định mạnh mẽ bản chất nhà nƣớc ta là nhà nƣớc thực hiện chủ quyền nhân dân, thực hành dân chủ, bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân và bảo đảm quyền lực của nhân dân, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ.
Tất cả quyền Nhà nước thuộc về nhân dân…. Hiến pháp năm 2013 thúc đẩy việc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nƣớc pháp quyền phải là nhà nƣớc mà trong đó các quyền con ngƣời đƣợc ghi nhận, tôn 10 trọng, bảo vệ và bảo đảm. Theo nghĩa đó, thúc đẩy nhà nƣớc pháp quyền cũng có nghĩa là thúc đẩy sự tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con ngƣời.
Hiến pháp năm 2013 xác định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tƣ pháp, sứ mệnh của Tòa án nhân dân đƣợc xác định là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là những điểm mới có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử lập hiến Việt Nam, khẳng định những nguyên tắc của một nền tƣ pháp hiện đại vì con ngƣời, cụ thể là nguyên tắc hai cấp xét xử mà thực chất là một bảo đảm để thúc đẩy quyền của ngƣời bị buộc tội đƣợc yêu cầu xem xét lại bản án; nguyên tắc về quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đƣơng sự; nguyên tắc về sự tham gia xét xử của Hội thẩm nhân dân. Những nguyên tắc trên đây phản ánh tính dân chủ và đề cao quyền tiếp cận công lý của ngƣời dân, bảo đảm quyền con ngƣời, quyền công dân trong hoạt động tƣ pháp. Quyền con ngƣời và quyền công dân là hai phạm trù khác nhau, song có mối liên hệ rất chặt chẽ, tác động, bổ sung lẫn nhau.
Khái niệm và viễn cảnh về quyền con ngƣời có thể đƣợc nhìn nhận qua lăng kính của quyền công dân và ngƣợc lại. Thực tế cho thấy sự gắn bó giữa quyền con ngƣời và quyền công dân ngày càng trở lên mật thiết, trong một số trƣờng hợp rất khó phân biệt và trong một số bối cảnh không cần thiết phải phân biệt giữa chúng (ví dụ các quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm,…). Sự tƣơng đồng kể trên khiến cho những nỗ lực thúc đẩy và bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân trở lên khăng khít, không thể tách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tƣơng đối khác nhau. Nội dung và đặc điểm của quyền khiếu nại của công dân Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản, quyền tự do dân chủ quan trọng của công dân đƣợc Hiến pháp các quốc gia trên thế giới ghi nhận 11 và bảo đảm thực hiện.
Quyền khiếu nại của công dân không tồn tại độc lập mà liên quan chặt chẽ với các quyền tự do khác của công dân trong mối quan hệ tổng hòa của sự thống nhất các quyền và nghĩa vụ của công dân. Thực hiện và bảo đảm quyền khiếu nại thể hiện mối quan hệ giữa nhà nƣớc và công dân, thể hiện sự phát triển của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và là biểu hiện của chế độ chính trị của mỗi nhà nƣớc. Khiếu nại không chỉ là công cụ, phƣơng tiện pháp lý hữu hiệu để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích của nhà nƣớc khi bị xâm phạm, mà còn là một trong những phƣơng thức quan trọng để công dân tham gia quản lý nhà nƣớc, phát huy một cách có hiệu quả quyền làm chủ của mình, xây dựng nền công vụ minh bạch, đóng vai trò phục vụ, phù hợp với xu thế phát triển nền hành chính hiện đại trong giai đoạn hiện nay. Khiếu nại là một hiện tƣợng xã hội đƣợc quan niệm và hiểu theo nhiều góc độ khác nhau.
Thuật ngữ “ khiếu nại” theo tiếng La tinh là “ complaint” có nghĩa là việc phàn nàn, phản ứng, bất bình của một ngƣời nào đó đối với một vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình.