Chương 1: Khái quát chung về bảo đảm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động. Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động Việt Nam. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƢỜI MẸ TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 1.
Khái niệm quyền của ngƣời mẹ và bảo đảm quyền của ngƣời mẹ trong pháp luật lao động 1. Khái niệm quyền của người mẹ Hiện nay khái niệm quyền của người mẹ chưa được đề cập dưới phương diện là một khái niệm pháp lý trong bất kỳ văn bản pháp luật nào, khái niệm này chỉ được quy định một cách chung chung, rải rác trong một số văn bản trên thế giới như tại Công ước CEDAW - Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho phụ nữ “Quyền được bảo vệ chức năng sinh đẻ” (Điểm f, khoản 1, Điều 11),… Ở Việt Nam, quyền của người mẹ cũng chưa được quy định một cách cụ thể trong văn bản pháp luật lao động nhưng thông qua những điều khoản tại Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan, quyền của người mẹ gián tiếp luôn được pháp luật bảo đảm. Từ Hiến pháp năm 1992 Nhà nước đã có quy định: “Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em” (Điều 40); “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ” (Điều 63). Trên cơ sở của Hiến pháp, Luật Hôn nh n và gia đ nh năm 2000 đã quy định tại khoản 6 Điều 2: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ”.
Tới nay Hiến pháp năm 2013 vẫn tiếp tục duy trì và giữ vững những quy định trên“Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” (Điều 36); “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mẹ” (Điều 58) như một lời khẳng định thống nhất quan điểm luôn luôn tôn trọng và bảo đảm quyền của người mẹ. Để hiểu được khái niệm quyền của người mẹ, trước hết phải hiểu được khái niệm “quyền” nói chung. Khái niệm quyền được xây dựng trong Luật La Mã và được coi như một trong những khái niệm chủ yếu của luật cơ bản. Quyền được hiểu một cách tổng quát là sự thừa nhận của pháp luật về việc một chủ thể của luật được thụ hưởng một lợi ch nào đó và tất cả người khác phải tôn trọng sự thụ hưởng đó.
Ở Việt Nam, quyền theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ tư pháp “là những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế”. Theo Wikipedia, mẹ thông thường được dùng để chỉ người phụ nữ mang thai, sinh ra và nuôi lớn đứa trẻ. Có thể thấy, những quy định về quyền của người mẹ xét về hình thức diễn đạt có thể không giống nhau nhưng nội hàm của khái niệm được nhìn nhận khá thống nhất. Về cơ bản, có thể hiểu quyền của người mẹ là quyền của người phụ nữ trong xã hội được bảo vệ bằng công cụ pháp luật để có thể có điều kiện thực hiện (quyền sinh con, chăm sóc con), thừa nhận việc có con (cho và nhận con nuôi) mà không ai có quyền xâm phạm hay ngăn cản.
Khái niệm bảo đảm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động Theo cách hiểu chung nhất, bảo đảm quyền là việc sử dụng toàn bộ các chính sách, pháp luật cùng với điều kiện khác như kinh tế, chính trị, văn hóa,… để bảo đảm thực thi quyền trên thực tế. Trong pháp luật lao động, bảo đảm quyền được dựa trên tổng thể về quyền và lới ích của các chủ thể trong quan hệ lao động là NLĐ và NSDLĐ. Ở nước ta, việc bảo đảm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động được thể hiện gián tiếp thông qua những quy định về LĐN. Theo đó LĐN là người có khả năng lao động và có giới tính nữ, có từ đủ 15 tuổi trở lên, được nhận làm việc theo Hợp đồng lao động (HĐLĐ), được tuyển dụng hợp pháp và được trả lương cũng như chịu sự quản 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý từ NSDLĐ… Như vậy, để hiểu vấn đề bảo đảm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động ở Việt Nam, trước tiên cần xem xét khái niệm LĐN dưới các góc độ: Một là, xét về mặt sinh học LĐN là NLĐ có “giới tính nữ”.
Giới tính là khái niệm chỉ đặc điểm sinh học khác biệt giữa nam và nữ, để khi xác định vai trò mang tính thiên chức, chỉ có người phụ nữ mới có thiên chức làm mẹ, có khả năng mang thai, sinh con và cho con bú. Bởi vậy, một người là LĐN th trước tiên người đó phải mang giới tính nữ. Hai là, xét về mặt pháp lý th LĐN là “người lao động”. Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2012 định nghĩa: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”.
Từ định nghĩa này, ta có thể thấy để trở thành NLĐ th phải đáp ứng 04 (bốn) tiêu chí sau: - NLĐ được giới hạn độ tuổi từ đủ 15 trở lên. Ngoài ra, đối với một số công việc có tính chất đặc biệt, NSDLĐ được thuê NLĐ dưới 15 tuổi nhưng phải đáp ứng những điều kiện nhất định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 164 BLLĐ 2012. - NLĐ có khả năng lao động, đáp ứng đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định, trong đó: Năng lực pháp luật của NLĐ là khả năng người đó được pháp luật quy định cho các quyền và buộc phải gánh vác những nghĩa vụ lao động, được thể hiện thông qua hệ thống các quy định của pháp luật; Năng lực hành vi lao động là khả năng thực tế của NLĐ trong việc tạo ra, hưởng dụng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ lao động. NLĐ một mặt thực thi được các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định.
Mặt khác, có thể tạo ra các quyền năng cụ thể cho m nh trên cơ sở quyền năng mà pháp luật đã ghi nhận nhằm đạt được những giá trị, những lợi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ích thiết thực cho bản thân. Trong một số trường hợp, pháp luật quy định hạn chế năng lực pháp luật lao động của NLĐ như cấm đảm nhiệm một số chức vụ, hay cấm làm một số ngành nghề nhất định. Khi đó mặc dù có khả năng, có năng lực hành vi lao động đầy đủ họ cũng không được tham gia quan hệ lao động trong phạm vi pháp luật cấm. - NLĐ phải làm việc theo HĐLĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ.
Theo đó, NLĐ phải làm những công việc được giao và hưởng theo lợi ch, được trả lương theo quy định, có nghĩa vụ và chịu sự điều hành của NSDLĐ. Đối với NLĐ, HĐLĐ cũng là phương tiện để NLĐ tự do lựa chọn thay đổi việc làm, nơi làm việc phù hợp với khả năng, sở thích và nhu cầu của mình. - NLĐ được bảo đảm đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ cũng như các điều kiện khác của NLĐ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc bảo đảm quyền của NLĐ được hiểu là các cách thức, biện pháp làm cho quyền của NLĐ được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Hiện nay, quyền của NLĐ được quy định chủ yếu trong Hiến pháp năm 2013 và các văn bản liên quan như: Bộ luật Lao động 2012, Luật Việc làm 2013, Bảo hiểm xã hội 2014, Luật Công đoàn 2012, … hay trong Thỏa ước lao động, nội quy lao động của các doanh nghiệp, điều này cho thấy, việc bảo đảm quyền lợi cho NLĐ luôn được chú trọng và quan tâm. Ngoài những quyền lợi chung mà NLĐ được hưởng như ph n t ch ở trên th LĐN với chức năng sinh con của m nh được xem là đối tượng thuộc nhóm lao động đặc thù. Điều này không chỉ được ghi nhận ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các quốc gia phát triển. Do đó, bảo đảm quyền của người mẹ cho LĐN cần phải có những ưu tiên nhất định.
Tóm lại, có thể hiểu một cách đầy đủ và khái quát nhất khái niệm bảo đảm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động là việc Nhà nước sử dụng tổng thể các chính sách, pháp luật lao động cùng các điều kiện kinh tế, chính 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị, văn hóa liên quan đến khả năng của người phụ nữ trong việc thực hiện hoặc thừa nhận việc có con đẻ hoặc con nuôi mà không phụ thuộc vào tình trạng hôn nh n cùng các cơ chế bảo đảm thực thi trên thực tế. Với đối tượng phụ nữ là LĐN th nội dung bảo đảm quyền của người mẹ bao gồm quyền được làm việc, bảo đảm sức khỏe sinh sản, bảo đảm quyền được mang thai và sinh con, bảo đảm khả năng chăm sóc và nuôi dạy con của LĐN trong quá trình làm việc… đồng thời, bảo đảm quyền của người mẹ cho LĐN còn được thể hiện trong quan hệ với NSDLĐ để điều chỉnh và tránh trường hợp NSDLĐ g y ảnh hưởng đến quyền làm mẹ của LĐN. Ngoài ra, nội dung này còn được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội, thông qua cơ chế an sinh xã hội, tạo điều kiện về mặt thời gian, thu nhập để LĐN thực hiện quyền của người mẹ như chế độ chăm sóc con ốm, chế độ thai sản,… 1. Đặc điểm quyền của người mẹ trong pháp luật lao động Sự khác biệt về đặc điểm đã ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội thăng tiến, việc làm, học vấn, trách nhiệm của người phụ nữ trong gia đ nh.
Trên cơ sở chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đ nh, pháp luật lao động của hầu hết các nước đều ghi nhận quyền của người mẹ cho LĐN mà trước hết là các đặc điểm nhận biệt riêng như sau: LĐN vừa phải thực hiện các hoạt động lao động chuyên môn, vừa phải thực hiện “thiên chức” mặc định.