Tổng quan luận án

Công trình khoa học này là luận án tiến sĩ luật học với đề tài: "Bảo đảm quyền con người của người bị kết án phạt tù trong thi hành án hình sự ở Việt Nam", chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 62.04), do nghiên cứu sinh Lê Hữu Trí thực hiện tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Trần Văn Độ.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định quyền con người (QCN) là giá trị cao quý, là phạm trù lịch sử và là mục tiêu đấu tranh chung của nhân loại nhằm hướng tới xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tại Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã hiến định QCN và quyền công dân thành một chương riêng biệt (Chương II). Thi hành án phạt tù (THAPT) là hoạt động tư pháp hình sự phức tạp, tác động trực tiếp đến QCN và là nơi các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất, do đó cũng là nơi QCN dễ bị xâm hại nhất. Việc bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù là nội dung và mục đích trong Chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị và Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng). Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống quy định pháp luật về bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù còn chưa hoàn thiện; việc tổ chức thực hiện đạt hiệu quả chưa cao; hàng năm vẫn xảy ra tình trạng vi phạm QCN trong các cơ sở giam giữ (CSGG). Theo báo cáo của Vụ Kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù thuộc Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao, năm 2015 có 771 phạm nhân chết (trong đó có 04 trường hợp bị đánh chết bởi phạm nhân khác); đồng thời theo thống kê của Bộ Công an năm 2013, tỷ lệ tái phạm tội của người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương bình quân chiếm khoảng 25%. Từ khi Luật Thi hành án hình sự (THAHS) năm 2010 được ban hành và Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống và đồng bộ về vấn đề này.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù trong THAHS ở Việt Nam, đề xuất một số giải pháp tăng cường bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù trong THAHS ở nước ta.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 4 nhiệm vụ:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về QCN và bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù trong THAHS ở Việt Nam.
  2. Nghiên cứu vấn đề bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù trong THAHS của một số nước trên thế giới.
  3. Đánh giá thực trạng bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù trong THAHS ở Việt Nam, tìm ra những bất cập, hạn chế và xác định nguyên nhân.
  4. Đề ra các giải pháp tăng cường bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù trong THAHS ở Việt Nam.

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của đề tài bao gồm 5 điểm:

  1. Chưa có nhận thức thống nhất về QCN và bảo đảm QCN của người chấp hành án phạt tù (CHAPT).
  2. Pháp luật liên quan đến QCN của người CHAPT ở Việt Nam còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa đồng bộ và chưa hoàn thiện.
  3. Các yếu tố bảo đảm QCN của người CHAPT trong THAHS ở nước ta chưa đảm bảo.
  4. Thực tiễn bảo đảm QCN của người CHAPT trong THAHS ở nước ta còn hạn chế, chưa phù hợp với tinh thần triển khai Hiến pháp 2013 và yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền.
  5. Việc bảo đảm QCN của người CHAPT ở nước ta đạt hiệu quả chưa cao và cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp về nâng cao nhận thức, hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường các hoạt động bảo vệ và bảo đảm cơ sở vật chất.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 5 câu hỏi:

  1. QCN của người CHAPT là gì? Nội dung QCN của người CHAPT được quy định ra sao?
  2. Bảo đảm QCN của người CHAPT là gì? Các yếu tố tác động đến việc bảo đảm QCN của người CHAPT trong THAHS ở Việt Nam như thế nào?
  3. Thực trạng bảo đảm QCN của người CHAPT trong THAHS ở Việt Nam ra sao?
  4. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập về bảo đảm QCN của người CHAPT trong THAHS ở Việt Nam trong thời gian qua là gì?
  5. Cần thực hiện những giải pháp nào để tăng cường bảo đảm tốt hơn QCN của người CHAPT trong THAHS ở Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là QCN của người bị kết án phạt tù và vấn đề bảo đảm QCN của người bị kết án phạt tù trong THAHS ở Việt Nam.

Về phạm vi nghiên cứu, người bị kết án phạt tù bao gồm người bản án đã có hiệu lực nhưng chưa chấp hành, phạm nhân đang chấp hành án tại các CSGG, người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án. Trong đó, người CHAPT tại các CSGG (phạm nhân) là nhóm đối tượng chịu sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất và bị cách ly khỏi đời sống xã hội. Do đó, luận án tập trung phạm vi vào việc bảo đảm QCN của người CHAPT đang ở các CSGG. Phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn được xác định từ năm 2010 đến năm 2016.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong văn bản được chia thành hai nhóm chính: tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.

Trong nhóm nghiên cứu quốc tế, tác giả phân loại thành hai mảng:

  1. Nghiên cứu về QCN của người CHAPT:
    • Sách chuyên khảo "Human rights in administration of justice" (Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về QCN và Hiệp hội Luật sư Quốc tế, 2011) phân tích tiêu chuẩn pháp lý quốc tế trong bảo vệ QCN của người bị bắt, tạm giam và CHAPT.
    • Sách chuyên khảo "A Human Rights Approach to Prison Management" (Andrew Coyle, 2009) nghiên cứu quản lý trại giam dưới góc độ QCN, đề xuất đặt trại giam dưới sự quản lý của Bộ Tư pháp, cấm tra tấn, hạn chế biện pháp giam riêng ở buồng kỷ luật, bảo đảm quyền lao động có thù lao và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
    • Chuyên khảo "Prison policy and prisoners’ rights: The protection of prisoners’ fundamental rights in international and domestic law" với bài viết "Positive obligations to ensure the human rights of prisoners" của Piet Hein van Kempen (2008) về các nghĩa vụ tích cực nhằm bảo đảm an toàn, y tế và thăm gặp gia đình.
    • Bài báo "Solitary Confinement and International Human Rights: Why the US prison system fails global standards" của Elizabeth Valisiades (2005) nghiên cứu hậu quả của biện pháp biệt giam.
    • Sách chuyên khảo "Constitutional Rights of Prisoners" của John W. Palmer (2015) phân tích quyền hiến định, quyền tiếp cận thông tin, internet, thư tín và giảm khiếu kiện trong tù.
    • Sách chuyên khảo "The Treatment of Prisoners under International Law" của Nigel Rodley và Matt Pollard (2009) phân tích luật quốc tế về chống tra tấn và đối xử vô nhân đạo.
    • Sách chuyên khảo "Public Health behind bars, from prison to community" của Robert B. Greifinger (2007) phân tích y tế công cộng sau song sắt, ngăn chặn HIV, lao và chăm sóc sức khỏe tâm thần.
    • Các bài viết của Steve Foster (2009), N. D Miller (2007), John Reed (2003), Andrew Coyle (2004), Alvin J. Bronstein và Jenni Grainsborough (2004).
  2. Nghiên cứu về quản lý, tổ chức THAPT:
    • Sách chuyên khảo "Guidance Notes on Prison Reform" (Andrew Coyle, 2004) đưa ra các định hướng cải cách nhà tù, phi vũ trang hóa hệ thống trại giam và áp dụng các biện pháp thay thế hình phạt tù.

Trong nhóm nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu:

  1. Nghiên cứu về QCN của người CHAPT:
    • Bài viết "Mối quan hệ giữa QCN với luật THAHS Việt Nam" của Đỗ Đức Hồng Hà trong cuốn "QCN: Tiếp cận đa ngành và liên ngành Luật học" (2010).
    • Luận án tiến sĩ "Đảm bảo QCN trong hoạt động tư pháp" của Nguyễn Huy Hoàn (2004).
    • Luận án tiến sĩ "Thực hiện pháp luật về QCN của phạm nhân trong THAPT ở Việt Nam" của Nguyễn Đức Phúc (2012) và bài báo "Bảo đảm QCN trong THAPT ở Việt Nam hiện nay" của cùng tác giả (2004).
    • Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia "Bảo vệ QCN bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam" của Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (2006).
    • Luận văn thạc sĩ "Bảo đảm QCN trong THAPT tại Việt Nam" của Phạm Thị Tuyết Mai (2009).
  2. Nghiên cứu về quản lý và tổ chức THAPT:
    • Sách chuyên khảo "Hoàn thiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực THAHS" của Vũ Trọng Hách (2006).
    • Sách chuyên khảo "Một số vấn đề THAHS" của Trần Quang Tiệp (2002).
    • Sách chuyên khảo "Pháp luật THAHS Việt Nam những vấn đề lý luận với thực tiễn" do Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh Kháng chủ biên (2006).
    • Sách chuyên khảo "Những vấn đề lý luận cơ bản về THAPT ở Việt Nam" do Đường Minh Giới chủ biên (2007).
    • Đề tài khoa học cấp Bộ "Quản lý nhà nước về THAPT" của Hoàng Ngọc Nhất (2000) cùng bài báo năm 2001.
    • Các bài báo của Trương Hòa Bình (2002), Bùi Kiên Điện (2007), kỷ yếu Hội thảo khoa học tại Học viện Cảnh sát nhân dân (2006), và Báo cáo số 338/BC-UBTVQH ngày 15/6/2010 giải trình dự thảo Luật THAHS.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình trong nước được thực hiện trước khi Luật THAHS năm 2010 và Hiến pháp năm 2013 được ban hành, hoặc chỉ tiếp cận dưới góc độ quản lý hành chính, bảo đảm một số quyền đơn lẻ mà chưa xây dựng một hệ thống lý luận toàn diện về khái niệm, nội dung và các yếu tố bảo đảm QCN của người CHAPT. Do đó, luận án xác định vị trí nghiên cứu là công trình chuyên khảo cấp độ tiến sĩ đầu tiên tiếp cận toàn diện, hệ thống vấn đề này trong bối cảnh thực thi Hiến pháp năm 2013 và cải cách tư pháp tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và bảo đảm QCN. Luận án vận dụng hai nhánh học thuyết chuyên ngành:

  • Học thuyết về quyền con người: Tác giả dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác. Theo đó, quyền cá nhân không tách rời khỏi toàn thể xã hội, nội hàm của các khái niệm pháp luật, công lý, đạo đức, tự do mang tính lịch sử và được quyết định bởi điều kiện vật chất và hoàn cảnh xã hội của từng quốc gia. Việc nghiên cứu QCN của người CHAPT phải đặt trong điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể của Việt Nam.
  • Học thuyết về hình phạt: Tác giả dựa trên học thuyết vị lợi (utilitarianism). Học thuyết này coi hình phạt là biện pháp tự vệ của xã hội nhằm ngăn ngừa người bị kết án và người khác phạm tội mới. Việc thi hành hình phạt phải thực hiện theo phương châm trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo, cải tạo bằng chính trị kết hợp với lao động nhằm giúp họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, suy luận logic để làm rõ các vấn đề lý luận trong Chương 1, Chương 2 và đánh giá các mâu thuẫn, bất cập của hệ thống văn bản pháp luật trong Chương 3, xây dựng giải pháp trong Chương 4.
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng phương pháp thống kê, điều tra điển hình, khảo sát thực tiễn và phương pháp chuyên gia để thu thập, phân tích số liệu về tình hình giam giữ, số lượng phạm nhân chết, diện tích chỗ nằm, công tác giáo dục, thi đua và biên chế cán bộ trong giai đoạn 2010 - 2016 tại Chương 3.

Nguồn dữ liệu và tư liệu của luận án bao gồm:

  • Các văn kiện pháp lý quốc tế: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR 1948), Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR 1966), Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR 1966), Công ước chống tra tấn (CAT 1984), Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân (1955), Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù (1988), Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân (1990).
  • Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật THAHS năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Báo cáo số liệu thực tế: Báo cáo định kỳ và chuyên đề của Tổng cục Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII - Bộ Công an) và Vụ Kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản lý giáo dục người CHAPT thuộc VKSND tối cao từ năm 2010 đến năm 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền con người của người chấp hành án phạt tù trong thi hành án hình sự

Chương này tập trung hệ thống hóa và phân tích hai dòng tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về QCN của người CHAPT và công tác quản lý, tổ chức THAPT. Tác giả phân tích các khuyến nghị quốc tế (như chuyển giao hệ thống nhà tù sang cơ quan tư pháp dân sự, bảo đảm quyền liên lạc, chăm sóc sức khỏe, tự do tôn giáo) và chỉ ra sự cần thiết phải đánh giá tính khả thi khi áp dụng vào điều kiện kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy và cơ sở vật chất tại Việt Nam. Chương 1 khẳng định khoảng trống học thuật chưa có công trình nào đánh giá toàn diện vấn đề bảo đảm QCN của người CHAPT kể từ khi có Luật THAHS năm 2010 và Hiến pháp năm 2013, từ đó thiết lập cơ sở lý định hướng nghiên cứu cho các chương tiếp theo.

Chương 2. Lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người chấp hành án phạt tù trong thi hành án hình sự

Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm và cơ sở lý thuyết. Tác giả định nghĩa: "QCN của người CHAPT trong THAHS là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của người CHAPT được ghi nhận, bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế." Về bản chất, đây là các quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp mà người CHAPT không bị tước bỏ hay hạn chế theo luật định.

Luận án phân tích nội dung các quyền của người CHAPT thành hai nhóm chính:

  1. Nhóm các quyền về dân sự, chính trị:
    • Quyền sống (được bảo vệ tính mạng, không bị tước đoạt tùy tiện và được bảo đảm điều kiện tồn tại tối thiểu về ăn, mặc, ở theo Điều 9 đến 20 của Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu 1955).
    • Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm (cấm tra tấn, đối xử tàn bạo; yêu cầu phân loại giam giữ riêng phụ nữ, người chưa thành niên, người mắc bệnh truyền nhiễm theo Quy tắc 8 của Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu 1955).
    • Quyền tiếp cận thông tin (chấp hành án gần nơi cư trú theo Nguyên tắc 20 của Tập hợp nguyên tắc 1988; quyền thăm gặp thân nhân, gửi/nhận thư từ, liên lạc điện thoại theo Quy tắc 37, 38; quyền tiếp nhận thông tin thời sự, chính sách theo Quy tắc 39).
    • Quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi trái pháp luật của cơ quan, cán bộ (theo Quy tắc 36).
    • Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo (bày tỏ đức tin, tham gia nghi lễ, tiếp xúc chức sắc tôn giáo theo Quy tắc 6, 41, 42).
  2. Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa:
    • Quyền lao động (lao động gắn với dạy nghề, an toàn lao động, có thù lao nhằm phục vụ tái hòa nhập theo Nguyên tắc 8 của Những nguyên tắc cơ bản 1990 và Quy tắc 71 đến 76).
    • Quyền học tập, học văn hóa, học nghề.
    • Quyền được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh và bảo đảm an sinh xã hội.

Chương 3. Thực trạng bảo đảm quyền con người của người chấp hành án phạt tù trong thi hành án hình sự ở Việt Nam

Chương 3 khảo sát thực tế giai đoạn 2010 - 2016 qua 4 nội dung: thực trạng quy định pháp luật; thực trạng bảo vệ quyền; thực trạng tổ chức thực hiện; và nguyên nhân của những hạn chế.

Văn bản ghi nhận các số liệu và bảng thống kê thực tế:

  • Tình trạng tử vong của phạm nhân: Năm 2015 ghi nhận 771 phạm nhân chết trong các cơ sở giam giữ.
Nguyên nhân phạm nhân chết năm 2015 Số lượng (người)
Do nhiễm HIV/AIDS 444
Do bệnh lý 280
Do nguyên nhân khác 20
Do tự sát 19
Bị đánh chết bởi phạm nhân khác 04
Do tai nạn lao động 04
Tổng cộng 771
  • Danh mục các bảng dữ liệu được luận án thu thập và phân tích từ năm 2010 đến 2016 gồm:
    • Số liệu phạm nhân từng năm từ 2010 đến 2016.
    • Số liệu phạm nhân chết từ năm 2010 đến năm 2016.
    • Diện tích sàn nằm của phạm nhân ở các trại giam từ năm 2010 đến năm 2016.
    • Số liệu học văn hóa, học tập thời sự, chính trị và chính sách pháp luật của phạm nhân.
    • Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THAPT.
    • Kết quả xếp loại thi đua CHAPT của phạm nhân từ năm 2010 đến năm 2016.
    • Số lượng cán bộ, chiến sĩ Tổng cục Cảnh sát THAHS và HTTP.
  • Tỷ lệ tái phạm: Báo cáo tổng kết của Bộ Công an (2013) khảo sát giai đoạn 2002 - 2012 chỉ ra tỷ lệ người chấp hành xong án phạt tù tái phạm tội khi trở về cộng đồng bình quân khoảng 25%.
  • Bất cập: Tồn tại tình trạng quá tải buồng giam, diện tích chỗ nằm chưa đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu, cơ sở vật chất y tế và trang thiết bị lao động dạy nghề còn thiếu thốn; nhận thức và chế độ trách nhiệm của một bộ phận cán bộ THAPT còn hạn chế.

Chương 4. Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người chấp hành án phạt tù trong thi hành án hình sự ở Việt Nam

Chương 4 đưa ra các nhóm quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và hệ thống 5 nhóm giải pháp:

  1. Nâng cao nhận thức: Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt nhận thức về QCN và bảo đảm QCN của người CHAPT cho các cơ quan tư pháp, cán bộ quản lý trại giam và bản thân người CHAPT.
  2. Hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Luật THAHS năm 2010 và các văn bản dưới luật nhằm quy định minh bạch các quyền mà phạm nhân được hưởng và các quyền bị hạn chế; cụ thể hóa trình tự, thủ tục thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do tín ngưỡng, chế độ lao động có thù lao.
  3. Nâng cao năng lực cán bộ: Đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật nhân quyền cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác THAPT.
  4. Tăng cường hoạt động bảo vệ quyền: Nâng cao hiệu lực công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án của Viện kiểm sát; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm QCN của phạm nhân (đặc biệt là bạo lực và xâm phạm thân thể).
  5. Bảo đảm cơ sở vật chất: Đầu tư nâng cấp cơ sở giam giữ, bảo đảm diện tích sàn nằm, điều kiện ăn, ở, vệ sinh, chăm sóc y tế và trang thiết bị dạy nghề cho phạm nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận:

    • Xây dựng khái niệm khoa học mới về QCN của người CHAPT và khái niệm bảo đảm QCN của người CHAPT trong THAHS.
    • Phân định rõ mối quan hệ giữa nội dung QCN của người CHAPT với trách nhiệm bảo đảm của Nhà nước trên cơ sở tiếp cận Hiến pháp năm 2013 và các chuẩn mực pháp lý quốc tế.
    • Hệ thống hóa các yếu tố tác động và cơ chế bảo đảm QCN của phạm nhân trong môi trường giam giữ đặc thù.
  • Về mặt thực tiễn:

    • Cung cấp bức tranh toàn diện, khách quan về thực trạng bảo đảm các nhóm quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa của phạm nhân tại các cơ sở giam giữ ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2016 dựa trên các nguồn số liệu chính thức.
    • Nhận diện các nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến những bất cập trong công tác THAPT (như hiện tượng phạm nhân tử vong do bạo lực, tỷ lệ tái phạm 25%, quá tải sàn nằm).
    • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện quy định pháp luật đến nâng cấp cơ sở vật chất và đổi mới quy trình quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế phạm vi, luận án chỉ tập trung nghiên cứu và khảo sát nhóm đối tượng là người đang chấp hành án phạt tù thực tế tại các CSGG (phạm nhân), chưa mở rộng nghiên cứu sang các nhóm đối tượng khác thuộc diện bị kết án phạt tù như người đang được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án hoặc người bị kết án phạt tù chưa đi chấp hành án ngoài xã hội.

Về giới hạn thời gian, dữ liệu thực tiễn được thu thập và đánh giá nằm trong khung thời gian từ năm 2010 đến năm 2016.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra từ đề tài bao gồm:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo đảm QCN đối với người bị kết án phạt tù nhưng đang ở ngoài cơ sở giam giữ (hoãn, tạm đình chỉ).
  • Nghiên cứu so sánh sâu hơn về việc chuyển đổi mô hình quản lý trại giam sang cơ quan tư pháp dân sự trong điều kiện hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Khảo sát và đánh giá tác động của việc sửa đổi, bổ sung Luật THAHS trong các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo phục vụ các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Cơ quan xây dựng pháp luật và chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật THAHS, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản quy định chi tiết thi hành liên quan đến chế độ giam giữ, cải tạo phạm nhân.
  • Cơ quan thực thi pháp luật và kiểm sát: Là tài liệu tham khảo cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, VKSND tối cao (đặc biệt là lực lượng Cảnh sát THAHS và cán bộ làm công tác kiểm sát giam giữ) trong việc chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, ngăn ngừa hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm phạm nhân.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật THAHS và Luật Nhân quyền quốc tế tại các trường đại học luật, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân và Học viện Tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm quyền con người của người chấp hành án phạt tù được tác giả định nghĩa như thế nào?
Trả lời: Tác giả định nghĩa: QCN của người CHAPT trong THAHS là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của người CHAPT được ghi nhận, bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Về bản chất, đó là các quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp mà người CHAPT không bị luật tước bỏ hoặc hạn chế.

2. Luận án sử dụng học thuyết nào làm nền tảng lý thuyết khi nghiên cứu về quyền con người và hình phạt?
Trả lời: Về quyền con người, tác giả dựa trên học thuyết của chủ nghĩa Mác (xem xét quyền cá nhân gắn liền với điều kiện vật chất, kinh tế, xã hội và chỉnh thể cộng đồng). Về hình phạt và thi hành hình phạt, tác giả dựa trên học thuyết vị lợi (utilitarianism), coi hình phạt là biện pháp tự vệ xã hội, kết hợp trấn áp với khoan hồng, trừng trị với giáo dục cải tạo.

3. Số liệu thực tế nào được tác giả viện dẫn để chứng minh tình trạng vi phạm quyền con người trong trại giam còn xảy ra?
Trả lời: Tác giả trích dẫn Báo cáo năm 2015 của Vụ Kiểm sát tạm giữ, tạm giam, quản lý giáo dục người CHAPT (VKSND tối cao) cho thấy có 771 phạm nhân chết (trong đó có 04 trường hợp bị đánh chết bởi phạm nhân khác), và Báo cáo năm 2013 của Bộ Công an chỉ ra tỷ lệ người chấp hành xong án phạt tù tái phạm tội bình quân khoảng 25%.

4. Nhóm quyền dân sự, chính trị của phạm nhân được luận án phân tích gồm những quyền cụ thể nào?
Trả lời: Nhóm này gồm: quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm (cấm tra tấn, phân loại giam giữ); quyền tiếp cận thông tin (chấp hành án hợp lý, thăm gặp, gửi nhận thư, gọi điện thoại, nghe đài báo); quyền khiếu nại, tố cáo; và quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo.

5. Tại sao tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung vào phạm nhân đang chấp hành án tại các cơ sở giam giữ?
Trả lời: Tác giả giải thích rằng mặc dù khái niệm người bị kết án phạt tù bao gồm cả người được hoãn, tạm đình chỉ hoặc chưa đi chấp hành án, nhưng phạm nhân đang ở các cơ sở giam giữ là đối tượng bị cách ly khỏi xã hội và chịu các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do đó QCN của họ dễ bị xâm hại nhất và cần được quan tâm bảo vệ hơn cả.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Hữu Trí là công trình nghiên cứu chuyên khảo về việc bảo đảm quyền con người của người chấp hành án phạt tù trong thi hành án hình sự tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Dựa trên phương pháp luận Mác - Lênin, học thuyết vị lợi và tinh thần Hiến pháp năm 2013, tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận, phân tích các chuẩn mực pháp lý quốc tế và đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn áp dụng giai đoạn 2010 - 2016. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp tài liệu tham khảo cho hoạt động hoàn thiện chính sách pháp luật, tổ chức quản lý giam giữ và giảng dạy pháp luật tại Việt Nam.