chương 1, tác giả đã trình bày báo Cứu quốc từ khi ra đời đến khi cách mạng Tháng tám thành công. Đây là chặng đường đầy gian khổ nhưng cũng rất vinh quang, ghi dấu sự hi sinh của đội ngũ những người làm báo. Cuốn sách đã giúp tôi hiểu thêm về báo Cứu quốc- một tờ báo tiêu biểu của báo chí cách mạng ở Bắc Kỳ từ năm 1929-1945. Các cuốn thông sử như: "Tài liệu tham khảo lịch sử Việt Nam cận đại" do tác giả Trần Huy Liệu (chủ biên) xuất bản năm 1957;“Lịch sử Việt Nam tập 2 (1858- 1945)” của tác giả Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên) xuất bản năm 2004; “Lịch sử Việt Nam tập 9 từ năm 1930 đến năm 1945” của Tạ Thị Thúy (chủ biên) xuất bản năm 2017 đã phác họa bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam thời kỳ này.
Qua các tác phẩm, tôi có thể đối chiếu, tìm hiểu các sự kiện được trình bày trên báo chí cách mạng Bắc Kỳ đồng thời nghiên cứu báo chí cách mạng Bắc Kỳ trong bối cảnh chung của xã hội nước ta lúc bấy giờ. 15 Các công trình trên đây đã trực tiếp hoặc gián tiếp tìm hiểu về báo chí cách mạng Bắc Kỳ trong thời gian từ năm 1929 đến năm 1945. Đây chính là cơ sở ban đầu để tôi tìm hiểu báo chí cách mạng Bắc Kỳ trong thời gian từ năm 1929 đến năm 1945.2 Tình hình nghiên cứu của các học giả nước ngoài Báo chí cách mạng nói chung và báo chí cách mạng ở Bắc Kỳ từ năm 1929 đến năm 1945 nói riêng cũng được nhiều học giả nước ngoài quan tâm và nghiên cứu từ sớm. Trong đó, ta có thể kể đến: Cuốn sách: "Le régime de la Presse en Indochine" (Chế độ báo chí ở Đông Dương) của tác giả Henry Litolff xuất bản năm 1939 là tuyển tập những văn bản liên quan đến chế độ báo chí ở Đông Dương.
Cuốn sách được cấu trúc thành 8 chương với 463 trang sách - đây là một tài liệu rất hữu ích giúp tôi có thể tìm hiểu một cách chính xác, chi tiết về chế độ báo chí ở Đông Dương qua các thời kỳ- một nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc xuất bản báo chí cách mạng trong giai đoạn 1929-1945. Bài viết Le Journalisme au Vietnam et les périodiques Vietnamiens de 1865 à 1944 (Báo chí ở Việt Nam và tạp chí định kỳ Việt Nam từ năm 1865 đến năm 1944) của tác giả Đoàn Thị Đỗ xuất bản năm 1958, đã trình bày về báo chí ở Việt Nam và các Tạp chí Việt Nam định kỳ từ năm 1865 đến năm 1944 được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp. Với ưu thế được tiếp xúc thường xuyên với những tài liệu này (Đoàn Thị Đỗ là phụ tá tại Thư Viện Quốc Gia Pháp), bà đã phân báo, tạp chí của Việt Nam ở đây thành ba thời kỳ xuất bản liên tiếp: thời kỳ mở đầu: từ 1865 đến 1909, thời kỳ ra hoa: từ năm 1910 đến năm 1934 và thời kỳ trưởng thành từ năm 1935 đến năm 1944. Qua bài viết, chúng ta có thể hình dung những nét khái quát về diện mạo của những ấn phẩm định kỳ của Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa được lưu giữ ở đây.
Bài viết cũng giúp tôi có thể so sánh báo chí cách mạng mà mình đang nghiên cứu với hệ thống báo của Việt Nam trong cùng thời kỳ. William J Duiker với cuốn the rise of Nationalism in Vietnam 1900-1941 (Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam 1900-1941) xuất bản năm 1976 đã cấu trúc cuốn sách thành ba phần: các văn thân yêu nước, các nhà dân tộc chủ nghĩa ở đô thị và các cuộc cách mạng xã hội. Trong phần ba (từ trang 191 đến trang 292) để rút ra kết luận về đặc điểm của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, ông đã lần lượt tìm 16 hiểu từ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Xô viết Nghệ Tĩnh, việc xây dựng mặt trận, chiến tranh đang đến. Để tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao chủ nghĩa Mac có thể thâm nhập và in đậm ở Việt Nam mà không phải là một nơi nào khác ở Đông Nam Á, ông đã tìm tòi, nghiên cứu rất nhiều báo cách mạng trong giai đoạn 1930 -1940 như báo La Lutte, báo Ngày nay, báo Hồn trẻ, báo Tin tức, báo Le Travail…Với nhiều nhận định sắc sảo về quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa dân tộc cuốn sách đã giúp tôi có cái nhìn khách quan trong việc xem xét, đánh giá ảnh hưởng của những tờ báo cách mạng cũng như sự phát triển của cách mạng Việt Nam trong những năm trước 1940.
Cuốn Vietnamese Communism 1925-1945 (Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam 1925-1945) của tác giả Huỳnh Kim Khánh xuất bản năm 1982, đã được Gabriel Kolko nhận xét là: "Một phân tích nổi bật về giai đoạn đầu tiên của cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài nhất trong lịch sử hiện đại". Với sáu chương sách, tác giả đã phân tích sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam từ năm 1925 đến năm 1945. Theo tác giả, chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam là sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa Lênin. Đây là tài liệu cần thiết, có giá trị đối với việc tìm hiểu về sự phát triển của phong trào cách mạng và Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những nghiên cứu của ông về báo như: tìm hiểu 208 số báo Thanh niên… là những tư liệu quý giúp tôi có thêm hiểu biết về nguồn tài liệu báo cách mạng quý hiếm trong giai đoạn này. Tác giả Hồ Tài Huệ Tâm với cuốn Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution (Chủ nghĩa cấp tiến và nguồn gốc của cách mạng Việt Nam) xuất bản năm 1992 đã nghiên cứu về nguồn gốc của cách mạng Việt Nam thông qua nhiều nguồn tài liệu trong đó có tài liệu báo chí cách mạng. Ngay từ khi ra đời cuốn sách đã được đánh giá cao, Marilyn Levine, Tạp chí Lịch sử Hoa Kỳ đã nhận xét: "Công việc của Tài là sự pha trộn giữa những bằng chứng đáng tin cậy và những suy luận rút ra một cách cô đọng về biểu hiện cực đoan rất phức tạp ở Việt Nam trong những năm 1920-1930. Các tài liệu rất đa dạng từ tài liệu lưu trữ đến tài liệu lí lịch cá nhân…Bà ấy không chỉ vẽ phác thảo mà còn điền vào bức tranh những chi tiết sống động và chân dung sâu sắc".
Trong đó, những nghiên cứu, nhận định của 17 tác giả về báo Thanh Niên, trong phần 6 Organizing Revolution và phần 7 Freedom and Discipline, đã giúp tôi có thêm những dữ liệu quan trọng trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu về báo chí cách mạng. Học giả David Marr- một trong những nhà Việt Nam học xuất sắc, ông đã giành nhiều công sức, thời gian để nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Ông đã lần lượt cho ra đời các công trình nghiên cứu có giá trị. Trong đó, cuốn Vietnam 1945: The Quest for Power (Việt Nam 1945: Truy tìm quyền lực) đã nghiên cứu tất cả các nhóm chính trị có liên quan đến cuộc cách mạng (tháng 8-1945) của nhân dân Việt Nam như: Pháp và Nhật Bản (từ trang 13 đến trang 69); Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh (từ trang 152 đến trang 240); các lực lượng đồng minh: Trung Quốc và Mỹ (từ trang 241 đến trang 296); Anh và nước Pháp tự do (từ trang 297 đến trang 346) cũng như những điểm nhấn của cách mạng tháng 8 năm 1945… Trong cuốn sách này, nhiều báo cách mạng đã được ông đề cập, tìm hiểu như: báo Việt Nam độc lập (trang 175); báo của người dân tộc Thái (trang 186); báo Cứu quốc, báo Cờ giải phóng (trang 188), báo Giải phóng (trang 190)… để thấy được vai trò của báo cách mạng trong việc phát triển lực lượng, huy động sức mạnh của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng như của Việt Minh.
Đây không phải là công trình nghiên cứu trực tiếp về báo chí nhưng tác phẩm đã cho tôi thấy được sức mạnh, ảnh hưởng của báo chí cách mạng trong cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam. Cuốn sách The colonial bastille - a history of imprisonment in Vietnam 1862-1940 (Nhà tù thực dân- Lịch sử tù đày ở Việt Nam, 1862-1940) xuất bản năm 2001 của Peter Zinoman nghiên cứu trực tiếp về nhà tù của Pháp ở Việt Nam thời cận đại. Trong tác phẩm, ngoài việc vẽ ra bức tranh tổng thể về nhà tù ở Việt Nam thời Kỳ thuộc địa, tác giả còn tìm hiểu về phong trào đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng ở trong các nhà tù thực dân. Luận điểm xuyên suốt trong toàn bộ nghiên cứu này là nghịch lý của quá trình thực dân ở Việt Nam: hệ thống nhà tù do thực dân Pháp lập ra để đàn áp, ngăn chặn phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam nhưng chính nó, lại trở thành môi trường - trường học của lòng yêu nước và chủ nghĩa cộng sản, một cơ sở đấu tranh lật đổ thực dân xâm lược.
Trong tác phẩm, 18 nhiều tờ báo do những người cộng sản xuất bản ở các nhà tù cũng được tìm hiểu như: báo Đời tù - ở nhà tù Hỏa Lò; báo Áo Xanh ở nhà tù Quảng Trị. Những nghiên cứu này giúp tôi có thêm tư liệu để biết thêm về báo chí cách mạng trong các nhà tù thực dân. McHale với cuốn: Print and power: Confucianism, Communism and Buddhism in the making of modern Vietnam (Ấn phẩm và quyền lực: Nho giáo, Chủ nghĩa Cộng sản và Phật giáo trong quá trình hình thành nước Việt Nam hiện đại) xuất bản năm 2004 đã nghiên cứu mối quan hệ giữa những ấn phẩm và chính trị. Trên cơ sở khảo sát một lượng lớn ấn phẩm xuất bản ở Việt Nam từ năm 1920 đến năm 1945, tác giả đã cho thấy việc sử dụng ấn phẩm tăng vọt đã biến đổi đời sống cộng đồng của người Việt và định hình ý thức của người Việt Nam hiện đại.
Cuốn sách gồm 5 chương, trong đó, chương 4: “ Printing revolution, spreading communism” từ trang 102 đến trang 142, đã trình bày quan điểm của tác giả về các ấn phẩm cách mạng và vai trò của chúng. Tuy nhiên, khi khai thác bộ sưu tập lớn các ấn phẩm từ năm 1920-1945 được tìm thấy tại thư viện Quốc gia Pháp và thư viện Quốc gia Việt Nam, vì sách báo về đạo đức và tôn giáo nhiều hơn nhiều so với sách báo về chính trị, ông tuyên bố Việt Nam đã quá coi trọng vai trò của chủ nghĩa cộng sản mà xem nhẹ văn hóa tri thức của Phật giáo và Nho giáo.