Khóa luận Dược sĩ: Nghiên cứu bào chế hệ mang thuốc chứa Dihydromyricetin

Khóa luận dược sĩ nghiên cứu bào chế hệ mang thuốc chứa Dihydromyricetin (DHM) dưới dạng hệ phân tán rắn và hệ tự nhũ hóa để tăng độ tan.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Dihydromyricetin DHM và ý nghĩa bào chế hệ mang thuốc

Dihydromyricetin (DHM) là một hợp chất flavonoid tự nhiên có nguồn gốc từ các loại thực vật, đặc biệt là từ rễ cây Ampelopsis grossedentata. DHM sở hữu nhiều hoạt tính sinh học quý báu bao gồm hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm, bảo vệ gancải thiện miễn dịch. Tuy nhiên, DHM gặp phải những thách thức lớn trong phát triển dược phẩm do độ tan kém trong nước, sinh khả dụng thấpổn định tính hạn chế. Để vượt qua những hạn chế này, các nhà nghiên cứu đã phát triển các hệ mang thuốc hiện đại nhằm cải thiện hiệu quả điều trị và tối ưu hóa độ hấp thu của DHM trong cơ thể người.

1.1. Tính chất hóa học và dược động học của DHM

Dihydromyricetin có công thức phân tử C15H12O8 với cấu trúc flavonoid điển hình chứa nhóm hydroxyl và methoxy. Dược động học của DHM đặc trưng bởi quá trình chuyển hóa nhanh chóng trong gan, độ sinh khả dụng thấp khoảng 5-10% và thời gian bán thải ngắn. Những đặc tính này hạn chế hiệu quả lâm sàng, tạo động lực cho sự cần thiết của các hệ mang thuốc để cải thiện sinh khả dụngkéo dài thời gian lưu thị trong máu.

1.2. Các hoạt tính sinh học và ứng dụng lâm sàng

DHM biểu hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh thông qua việc quét gốc tự do và bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóa. Ngoài ra, hoạt tính chống viêm của DHM giúp giảm các chỉ số viêm như TNF-α, IL-6 và IL-8. Khả năng bảo vệ chức năng ganđiều chỉnh miễn dịch mở ra triển vọng ứng dụng trong điều trị các bệnh gan mãn tính, bệnh viêm mãn tính và hỗ trợ sức khỏe toàn thân.

II. Hệ phân tán rắn HPTR chứa DHM Lựa chọn hiệu quả

Hệ phân tán rắn là một trong những công nghệ bào chế tiên tiến nhất dùng để cải thiện độ tan và sinh khả dụng của các hoạt chất khó tan. HPTR chứa DHM được phát triển bằng cách phân tán DHM đều trong một chất mang polymer như Polyvinyl pyrrolidon (PVP K30). Phương pháp này tạo ra một hỗn hợp rắn đồng nhất ở mức độ phân tử, cho phép tăng tốc độ tancải thiện hấp thu của DHM. Các nghiên cứu cho thấy HPTR có thể tăng sinh khả dụng lên 3-5 lần so với DHM nguyên chất, mang lại ý nghĩa lâm sàng to lớn trong phát triển dược phẩm hiệu quả.

2.1. Cơ chế tăng độ tan của hệ phân tán rắn

Cơ chế chính để HPTR tăng độ tan DHM dựa trên việc phá vỡ cấu trúc tinh thể của hoạt chất và phân tán ở mức độ phân tử hoặc tiểu phân nano. Chất mang PVP K30 với tính hydrophilic cao tạo ra lớp bao quanh các phân tử DHM, giảm tương tác giữa các phân tử thuốctăng khả năng tương tác với nước. Hiệu ứng này làm tăng đáng kể tốc độ hòa tanđộ tan cân bằng, tạo điều kiện tối ưu cho hấp thu tại vị trí tiêu hóa.

2.2. Phương pháp bào chế và đánh giá chất lượng HPTR

HPTR DHM được chế tạo bằng phương pháp trộn nóng hoặc phương pháp tan dung môi để đảm bảo phân tán đều. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng bao gồm quét điện tử SEM kiểm tra hình dạng tiểu phân, phân tích nhiệt DSC xác định trạng thái tinh thể, phổ FT-IR xác định tương tác hóa học, và kiểm tra độ tan in vitro để đánh giá hiệu suất giải phóng thuốc.

III. Hệ tự nhũ hóa SEDDS chứa DHM Công nghệ tiên tiến

Hệ tự nhũ hóa (Self-Emulsifying Drug Delivery System - SEDDS) là một công nghệ mang thuốc đột phá đặc biệt thích hợp cho các hoạt chất lipophilic như DHM. SEDDS bao gồm hỗn hợp dầu, chất nhũ hóa, và các co-solvent hữu cơ, tạo ra một hệ thống động lực cao có khả năng tự nhũ hóa khi gặp nước trong dạ dày. Công nghệ này mang lại nhiều ưu điểm vượt trội như tăng sinh khả dụng 2-6 lần, giảm biến thiên gữa các cơ thể, cải thiện ổn định tínhdễ dàng sản xuất dùng đường uống. Những đặc tính này làm cho SEDDS trở thành lựa chọn lý tưởng cho phát triển dược phẩm DHM thế hệ mới.

3.1. Thành phần và cơ chế hoạt động của SEDDS

SEDDS chứa DHM được cấu tạo từ ba thành phần chính: dầu (oil phase) cung cấp môi trường lipophilic cho DHM, chất nhũ hóa (surfactant) giảm độ căng bề mặt, và co-solvent tăng khả năng hòa tan. Khi SEDDS tiếp xúc với dịch dạ dày, các thành phần tự nhũ hóa tạo nên nhũ tương dầu-nước, giúp tăng diện tích bề mặt tiếp xúc và cải thiện hấp thu không cổng tĩnh mạch của DHM.

3.2. Đánh giá đặc tính và hiệu suất SEDDS

Đánh giá SEDDS DHM bao gồm đo sức căng bề mặt để xác định khả năng nhũ hóa, xác định kích thước tiểu phân bằng DLS để đánh giá độ phân tán, kiểm tra ổn định tính qua các chu kỳ lưu trữ, phổ FT-IR xác định tương tác phân tử, và kiểm tra hiệu suất hóa rắn để phát triển dạng bào chế đơn liều ổn định.

IV. Đánh giá in vivo Mô hình cá ngựa vằn và triển vọng lâm sàng

Mô hình thử nghiệm sinh học sử dụng ấu trùng cá ngựa vằn (Danio rerio) đã trở thành công cụ quý báu để đánh giá độc tínhhiệu quả hấp thu của các hệ mang DHM trước khi lâm sàng hóa. Mô hình này cho phép theo dõi in vivo sự phân phối thuốc, tác động lên nhịp tim, hình thái phát triển, và độc tính tổng quát ở các nồng độ khác nhau. Các kết quả từ cá ngựa vằn cho thấy HPTR và SEDDS DHM đều an toàn ở các nồng độ lâm sàng dự kiến và cải thiện hiệu suất hấp thu so với DHM nguyên chất. Những phát hiện này hỗ trợ đáng kể cho sự phát triển tiến tới thử nghiệm lâm sàng trên ngườiphê duyệt dược phẩm DHM thế hệ mới.

4.1. Cá ngựa vằn Danio rerio Mô hình in vivo thích hợp

Cá ngựa vằn là một mô hình động vật được công nhận rộng rãi trong nghiên cứu dược phẩm nhờ vào tương đồng di truyền cao với người (85% gen giống người), hệ thống cơ thể tương tự, và độ minh bạch của ấu trùng cho phép theo dõi trực tiếp sự hấp thu và phân phối thuốc. Ấu trùng nhỏ cho phép sử dụng lượng vật liệu ít, giảm chi phírút ngắn thời gian so với các mô hình động vật lớn khác.

4.2. Kết quả độc tính và khả năng hấp thu của các hệ mang DHM

Các nghiên cứu trên ấu trùng cá ngựa vằn cho thấy DHM nguyên chất có độc tính hạn chế ở nồng độ lâm sàng, nhưng HPTR và SEDDS cho phép giảm nồng độ cần dùng mà vẫn đạt hiệu quả. Theo dõi nhịp tim cho thấy không có ảnh hưởng tim mạch đáng kể. Hình thái phát triển bình thường, chỉ ra hệ mang thuốc an toàn cho sử dụng lâm sàng, mở đường cho phát triển công thức dạng uống hiệu quả cao cho điều trị lâm sàng.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ​ ​ ihydromyricetin​​(DHM)​​là​​một​​flavonoid​​tự​​nhiên​​có​​nhiều​​hoạt​​tính​​sinh​​học,​​đặc​​biệt​ D ​là​ ​tác​ ​dụng​ ​chống​ ​oxy​ ​hóa,​ ​bảo​ ​vệ​ ​gan,​ ​kháng​ ​viêm​ ​và​ ​chống​ ​ung​​thư.​​Nhờ​​những​​đặc​ ​tính​​này,​​DHM​​đã​​được​​nghiên​​cứu​​và​​phát​​triển​​các​​sản​​phẩm​​chăm​​sóc​​sức​​khỏe​​và​​điều​ ​trị​ ​bệnh​ ​lý.​ ​Tuy​ ​nhiên,​ ​DHM​ ​có​ ​độ​​tan​​kém​​trong​​nước​​(0,2​​mg/mL​​ở​​25°C),​​tính​​thấm​ ​kém​​qua​​màng​​sinh​​học​​và​​sinh​​khả​​dụng​​đường​​uống​​thấp​​(~​​4%),​​dẫn​​đến​​hạn​​chế​​lớn​ ​trong​​ứng​​dụng​​lâm​​sàng.​​Do​​đó,​​việc​​phát​​triển​​các​​hệ​​mang​​thuốc​​nhằm​​cải​​thiện​​độ​​tan​ ​và sinh khả dụng của DHM là một hướng nghiên cứu cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.​ ​ ó​ ​nhiều​ ​phương​ ​pháp​ ​có​​thể​​tăng​​độ​​hòa​​tan​​của​​dược​​chất​​ít​​tan​​như​​bào​​chế​​hệ​​phân​ C ​tán​ ​rắn,​ ​hệ​ ​tự​ ​nhũ​ ​hóa,​ ​hệ​ ​đồng​ ​tinh​ ​thể,​ ​tạo​​phức​​hợp​​với​​cyclodextrin,.​​Trong​​những​ ​năm​​gần​​đây,​​bào​​chế​​hệ​​phân​​tán​​rắn​​và​​hệ​​tự​​nhũ​​hóa​​là​​hai​​phương​​pháp​​thường​​được​ ​lựa​ ​chọn​ ​để​ ​ứng​ ​dụng​ ​trong​​việc​​tăng​​độ​​tan/độ​​hòa​​tan​​của​​các​​dược​​chất​​ít​​tan​​vì​​hiệu​ ​quả​​tăng​​độ​​tan/​​độ​​hòa​​tan​​và​​kỹ​​thuật​​bào​​chế​​không​​quá​​phức​​tạp.​​Khi​​bào​​chế​​hệ​​phân​ ​tán​​rắn,​​dược​​chất​​sẽ​​được​​chuyển​​thể​​từ​​dạng​​kết​​tinh​​sang​​dạng​​vô​​định​​hình​​và​​kết​​hợp​ ​với​​chất​​mang​​có​​tính​​thân​​nước​​sẽ​​làm​​tăng​​tính​​thấm​​ướt​​nhờ​​đó​​cải​​thiện​​độ​​tan/​​độ​​hòa​ ​tan​ ​biểu​​kiến​​của​​dược​​chất.​​Bên​​cạnh​​đó,​​hệ​​tự​​nhũ​​hóa​​SEDDS​​(Self​​emulsifying​​drug​ ​system)​ ​thành​ ​phần​ ​bao​ ​gồm​ ​pha​ ​dầu,​ ​dược​ ​chất,​ ​chất​ ​diện​ ​hoạt​ ​và​ ​đồng​ ​diện​ ​hoạt​ ​đã​ ​được​ ​chứng​ ​minh​ ​có​​thể​​giúp​​tăng​​độ​​tan,​​độ​​ổn​​định​​hóa​​học​​và​​sinh​​khả​​dụng​​của​​các​ ​thuốc​​sơ​​nước.​​Ngoài​​ra,​​SEDDS​​là​​hệ​​phân​​phối​​thuốc​​có​​khả​​năng​​bảo​​vệ​​dược​​chất​​sơ​ ​nước​ ​được​ ​sử​ ​dụng​ ​qua​ ​đường​ ​tiêu​ ​hóa​ ​do​ ​vậy​ ​giúp​ ​cải​ ​thiện​ ​sinh​ ​khả​​dụng​​của​​DHM​ ​một​​lượng​​lớn​​thuốc​​kỵ​​nước​​đã​​hòa​​tan​​khi​​đi​​qua​​đường​​tiêu​​hóa​​giúp​​cải​​thiện​​sinh​​khả​ ​dụng của DHM.​ ​ goài​ ​việc​ ​nghiên​ ​cứu​ ​và​​bào​​chế​​hai​​hệ​​mang​​thuốc​​này,​​đề​​tài​​cũng​​sẽ​​đánh​​giá​​và​​so​ N ​sánh​​khả​​năng​​hấp​​thu​​của​​DHM​​và​​hệ​​phân​​phối​​thuốc​​chứa​​DHM​​sử​​dụng​​mô​​hình​​cá​ ​ngựa​ ​vằn​ ​(​Danio​ ​rerio​​).​ ​Mô​ ​hình​ ​cá​ ​ngựa​ ​vằn​ ​ngày​ ​càng​ ​được​ ​sử​ ​dụng​ ​rộng​ ​rãi​ ​trong​ ​nghiên​​cứu​​phát​​triển​​thuốc​​nhờ​​cấu​​trúc​​gen​​tương​​đồng​​với​​con​​người,​​cá​​ngựa​​vằn​​phát​ ​triển​​nhanh​​trung​​bình​​khoảng​​3​​tháng​​cá​​ngựa​​vằn​​đã​​trở​​thành​​cá​​thể​​trưởng​​thành​​và​​có​ ​thể​​sinh​​sản.​​Việc​​thử​​nghiệm​​trên​​cá​​ngựa​​vằn​​không​​chỉ​​giúp​​đánh​​giá​​khả​​năng​​hấp​​thu​ ​của​​DHM​​trên​​mô​​hình​​cá​​ngựa​​vằn,​​mà​​còn​​góp​​phần​​so​​sánh​​hiệu​​quả​​của​​hệ​​phân​​phối​ ​thuốc​ ​trong​ ​việc​ ​tăng​ ​sinh​ ​khả​ ​năng​ ​hấp​ ​thu​ ​của​ ​DHM.​ ​Từ​ ​những​ ​lí​ ​do​ ​trên,​ ​đề​ ​tài​ ​“Nghiên​ ​cứu​ ​bào​ ​chế​ ​hệ​ ​mang​ ​thuốc​ ​chứa​​dihydromyricetin”​​được​​thực​​hiện​​với​​những​ ​mục tiêu sau:​ ​1. Bào chế hệ phân tán rắn chứa dihydromyricetin. Bào chế hệ tự nhũ hóa chứa dihydromyricetin.​ ​Đánh​ ​giá​ ​hấp​ ​thu​​của​​dihydromyricetin​​và​​hệ​​phân​​phối​​thuốc​​chứa​​dihydromyricetin​ ​trên mô hình cá ngựa vằn.​ ​Tổng quan về dihydromyricetin​ ​1. Nguồn gốc​ ​ HM​​là​​một​​hợp​​chất​​flavonoid​​tự​​nhiên.​​Nguồn​​gốc​​chính​​là​​từ​​một​​số​​loài​​thực​ D ​vật,​​trong​​đó​​nổi​​bật​​và​​phổ​​biến​​là​​cây​​Chè​​dây​​(Ampelopsis​​cantoniensis)​​và​​một​​số​​loài​ ​thực vật họ Nho (Vitaceae).

Công thức hóa học và tên khoa học​ ​Hình 1. Công thức hóa học của dihydromyricetin​ ​Công thức phân tử:​​C​1​ 5​​H​​12​​O​8​ ​​,​​khối lượng phân tử: 320,25​​g/mol [2].​ ​ ên khoa học:​ T ​(2R,3R)-3,5,7-Trihydroxy-2-(3,4,5-trihydroxyphenyl)-2,3-dihydrochromen-4-one [2]. Tính chất lý hóa​ ​ ảm​ ​quan:​ ​dạng​ ​tinh​ ​thể​ ​hình​ ​kim​​màu​​vàng​​nhạt,​​thường​​tụ​​lại​​thành​​hình​​chổi,​ C ​nhẹ xốp.​ ​Nhiệt độ nóng chảy: 255-257℃.​ ​ hổ​​hấp​​thụ​​tử​​ngoại​​có​​cực​​đại​​ở​​bước​​sóng​​λ​​=​​292​​nm​​do​​có​​liên​​kết​​đôi​​ở​​vị​​trí​ P ​C2=​​C3​​[3].​​Sự​​hấp​​thụ​​UV​​cũng​​bị​​ảnh​​hưởng​​bởi​​bản​​chất​​của​​dung​​môi​​được​​sử​​dụng​ ​và​​độ​​pH​​của​​dung​​dịch.​​Độ​​pH​​cao​​(trên​​11​​đối​​với​​DHM)​​gây​​ra​​sự​​hình​​thành​​một​​đỉnh​ ​bước​​sóng​​dài​​phát​​sinh​​từ​​sự​​khử​​proton​​kép​​và/​​hoặc​​ba.​​Hơn​​nữa,​​có​​khả​​năng​​bị​​nhiễu​ ​bởi các chất hấp phụ tia cực tím như protein, axit nucleic và axit amin [3].​ ​ ộ​ ​tan:​ ​dihydromyricetin​ ​tan​ ​ít​ ​trong​ ​nước​ ​lạnh,​​tan​​tốt​​trong​​nước​​sôi,​​tan​​trong​ Đ ​cồn,​ ​tan​ ​hoàn​ ​toàn​ ​trong​ ​cồn​ ​nóng​ ​và​ ​ethylacetat,​ ​tan​ ​ít​ ​trong​ ​nước​ ​ở​ ​nhiệt​ ​độ​ ​phòng​ ​(0,2mg/mL ở 25℃ và 0,9 mg/mL ở 37℃).​ ​ ộ​​ổn​​định​​hóa​​học​​của​​DHM​​bị​​ảnh​​hưởng​​bởi​​pH​​đệm,​​nhiệt​​độ​​cũng​​như​​sự​​có​ Đ ​mặt​ ​của​ ​các​​ion​​kim​​loại​​như​​Fe​​3+​​,​​Al​​3+​​,​​Cu​​2+​​.​​DHM​​ổn​​định​​về​​mặt​​hóa​​học​​trong​​dung​ ​dịch​ ​axit​ ​yếu​ ​pH​ ​từ​ ​1,2​ ​đến​ ​4,6​ ​và​ ​không​​ổn​​định​​về​​mặt​​hóa​​học​​trong​​điều​​kiện​​dung​ ​2​ ​dịch kiềm [1].​ ​DHM​​có​​thể​​được​​định​​lượng​​bằng​​nhiều​​phương​​pháp​​khác​​nhau​​như:​​sắc​​ký​​lớp​ ​mỏng​ ​(TLC),​ ​sắc​ ​ký​ ​lỏng​ ​hiệu​ ​năng​ ​cao​ ​(HPLC),​ ​sắc​ ​ký​ ​dòng​ ​đối​ ​lưu​ ​tốc​ ​độ​ ​cao​ ​(HSCCC) và sắc ký dòng đối lưu hiệu năng cao (HPCCC) [1]. Tác dụng dược lý​ ​ ihydromyricetin​​(DHM)​​đã​​và​​đang​​được​​nghiên​​cứu​​các​​tác​​dụng​​sinh​​học​​như:​ D ​chất​ ​chống​ ​oxy​ ​hóa,​ ​kháng​ ​khuẩn,​ ​kháng​ ​virus​ ​và​ ​chống​ ​viêm​ ​và​ ​tăng​ ​cường​ ​hệ​ ​miễn​ ​dịch… [4].

Tác dụng chống oxy hóa​ ​ oạt​ ​tính​ ​chống​ ​oxy​ ​hóa​ ​của​ ​Dihydromyricetin​ ​(DHM)​ ​được​ ​đánh​ ​giá​ ​bằng​ ​thử​ H ​nghiệm​​bắt​​gốc​​tự​​do​​ABTS.​​Nguyên​​tắc​​ATBS​​.+​​được​​sinh​​ra​​từ​​phản​​ứng​​giữa​​ABTS​ ​và​​kali​​persulfat​​là​​một​​gốc​​tự​​do​​bền​​phát​​huỳnh​​quang​​màu​​xanh​​có​​độ​​hấp​​thụ​​cực​​đại​ ​tại​​bước​​sóng​​734​​nm.​​Khi​​có​​mặt​​của​​DHM​​là​​một​​chất​​có​​tính​​oxy​​hóa,​​ABTS•+​ ​sẽ​​bị​ ​khử​ ​về​ ​dạng​ ​không​ ​màu​ ​dẫn​ ​đến​ ​độ​ ​hấp​ ​thụ​ ​ở​ ​bước​ ​sóng​ ​đặc​ ​trưng​​giảm.​​Kết​​quả​​cho​ ​thấy DMY có giá trị IC​​50​​​là 29,51 µg/mL [5].​ ​ rong​​một​​nghiên​​cứu​​khác,​​so​​sánh​​khả​​năng​​chống​​oxy​​hóa​​của​​DHM,​​vitamin​​C​ T ​(chất​​chống​​oxy​​hóa​​tan​​trong​​nước)​​và​​TBHQ​​(tert-butylhydroquinone​​–​​chất​​chống​​oxy​ ​hóa​ ​tan​ ​trong​ ​chất​ ​béo)​ ​theo​ ​phương​ ​pháp​​tương​​tự​​như​​trên.​​Kết​​quả​​cho​​thấy​​IC​​50​ ​của​ ​các chất lần lượt là 46,51; 61,02 và 79,34​​µg. Hoạt tính kháng khuẩn và kháng virus​ ​ ác​ ​nghiên​ ​cứu​ ​đã​ ​chỉ​ ​ra​ ​rằng,​ ​DHM​ ​có​ ​hoạt​ ​tính​ ​kháng​ ​khuẩn​ ​và​ ​kháng​ ​virus.​ C ​DHM​ ​có​ ​tác​ ​dụng​ ​ức​ ​chế​ ​sự​ ​phát​ ​triển​ ​của​ ​14​ ​chủng​ ​vi​ ​khuẩn,​ ​chủ​ ​yếu​ ​là​ ​các​ ​chủng​ ​Staphylococcus aureus và một số vi khuẩn Bacillus [7].​ ​ ột​ ​nghiên​ ​cứu​ ​khác​ ​đã​ ​chứng​ ​minh​ ​rằng​ ​DHM​ ​có​ ​khả​ ​năng​ ​ức​​chế​​HIV​​mạnh​ M ​trong​ ​các​ ​giai​​đoạn​​hấp​​thụ,​​ủ​​bệnh​​và​​nhiễm​​trùng​​cấp​​tính​​HIV-1.​​DHM​​ức​​chế​​HIV-1​ ​qua​​cơ​​chế​​kép:​​vừa​​kháng​​virus,​​vừa​​tăng​​cường​​miễn​​dịch.​​Cơ​​chế​​kháng​​virus​​của​​nó​​là​ ​ngăn​ ​chặn​ ​sự​ ​xâm​ ​nhập​ ​của​ ​HIV-1​ ​bằng​ ​cách​ ​làm​ ​giảm​ ​số​​lượng​​đồng​​thụ​​thể​​CXCR4​ ​trên​ ​bề​ ​mặt​ ​tế​ ​bào​ ​thông​​qua​​quá​​trình​​nội​​hóa​​(internalization).​​Đồng​​thời,​​Ampelopsin​ ​còn​​tăng​​cường​​các​​chức​​năng​​miễn​​dịch​​tế​​bào,​​như​​hoạt​​động​​của​​tế​​bào​​NK​​và​​lympho​ ​T, trên mô hình chuột bị suy giảm miễn dịch​​[8]​​.​ ​ HM​ ​còn​ ​có​ ​khả​ ​năng​ ​ức​ ​chế​ ​virus​ ​cúm​ ​A​ ​với​ ​cơ​ ​chế​ ​tác​ ​động​​kép,​​vừa​​có​​tác​ D ​dụng​​kháng​​virus,​​vừa​​chống​​viêm.​​Cụ​​thể,​​nó​​ngăn​​chặn​​sự​​nhân​​lên​​của​​virus​​bằng​​cách​ ​liên​​kết​​với​​tiểu​​đơn​​vị​​polymerase​​PB2,​​đồng​​thời​​làm​​giảm​​phản​​ứng​​viêm​​do​​virus​​gây​ ​ra​ ​bằng​ ​cách​ ​ức​ ​chế​ ​con​ ​đường​ ​tín​ ​hiệu​ ​TLR3.​ ​Ngoài​ ​ra,​ ​DHM​ ​còn​ ​cho​ ​thấy​ ​hiệu​ ​quả​ ​kháng virus hiệp đồng khi kết hợp với zanamivir [9]. Tác dụng trên chuyển hóa glucose và lipid​ ​ ác​​nghiên​​cứu​​đã​​chứng​​minh​​DHM​​có​​tiềm​​năng​​trong​​việc​​điều​​hòa​​chuyển​​hóa​ C ​đường​​và​​mỡ​​trong​​cơ​​thể,​​góp​​phần​​ngăn​​ngừa​​các​​bệnh​​chuyển​​hóa​​như​​gan​​nhiễm​​mỡ​ ​không​​do​​rượu​​và​​tiểu​​đường.​​Ở​​chuột,​​DHM​​giúp​​giảm​​cân​​và​​khối​​lượng​​mỡ​​mà​​không​ ​ảnh​​hưởng​​đến​​cảm​​giác​​thèm​​ăn.​​Việc​​sử​​dụng​​DHM​​còn​​giúp​​giảm​​triglycerid,​​LDL-C​ ​trong​ ​huyết​ ​thanh​ ​[1],​ ​hạn​ ​chế​ ​tích​ ​tụ​ ​lipid​ ​ở​ ​gan​ ​và​ ​giảm​ ​cholesterol​ ​toàn​ ​phần​ ​[10].​ ​Ngoài​ ​ra,​ ​DHM​ ​có​ ​thể​ ​giúp​ ​cải​ ​thiện​ ​các​ ​chỉ​ ​số​ ​đường​ ​huyết​​như​​đường​​huyết​​lúc​​đói,​ ​insulin,​ ​HbA1c​ ​và​ ​tăng​ ​khả​ ​năng​ ​dung​​nạp​​glucose,​​đồng​​thời​​làm​​chậm​​khởi​​phát​​tăng​ ​đường huyết [11]. Tác dụng chống ung thư​ ​ hiều​ ​nghiên​ ​cứu​ ​đã​ ​được​ ​thực​ ​hiện​ ​về​ ​hoạt​ ​tính​​chống​​ung​​thư​​của​​DHM​​cả​​in​ N ​vitro​​và​​in​​vivo.​​Kết​​quả​​cho​​thấy,​​DHM​​có​​khả​​năng​​ức​​chế​​các​​dòng​​tế​​bào​​ung​​thư​​như​ ​ung​​thư​​biểu​​mô,​​ung​​thư​​vú,​​ung​​thư​​tụy,​​ung​​thư​​phổi;​​cơ​​chế​​của​​quá​​trình​​này​​là​ ​DHM​ ​ức​ ​chế​ ​quá​ ​trình​ ​nhân​ ​lên​ ​của​ ​tế​ ​bào,​ ​ức​ ​chế​ ​sự​ ​tăng​ ​sinh​ ​tế​ ​bào​ ​di​ ​căn​ ​[1].​ ​Cụ​ ​thể​ ​là,​ ​DHM​ ​có​ ​khả​ ​năng​ ​ức​ ​chế​​protein​​Bcl-w​​và​​làm​​suy​​giảm​​ty​​thể,​​kích​​hoạt​​các​​enzyme​ ​caspase​​gây​​chết​​tế​​bào​​ung​​thư​​phổi​​không​​có​​tế​​bào​​nhỏ,​​như​​vậy,​​DHM​​có​​thể​​ức​​chế​​tế​ ​bào ung thư mà không ảnh hưởng đến sự phát triển của tế bào phổi bình thường​​[12].

Dược động học​ ​ ể​​nghiên​​cứu​​các​​thông​​số​​dược​​động​​học​​của​​DHM​​dùng​​đường​​uống,​​mô​​hình​ Đ ​động​​vật​​chuột​​đã​​được​​sử​​dụng.​​Kết​​quả​​cho​​thấy​​rằng​​DHM​​hấp​​thu​​kém​​với​​sinh​​khả​ ​dụng​​tuyệt​​đối​​chỉ​​đạt​​4,02%.​​Với​​liều​​uống​​20​​mg/kg,​​nồng​​độ​​tối​​đa​​(Cmax)​​DHM​​đạt​ ​được​ ​là​ ​21,63 ± 3,62 ng/mL​ ​sau​ ​khoảng​ ​2,67​ ​giờ​ ​uống,​ ​với​ ​thời​ ​gian​ ​bán​ ​thải​ ​(t​​1/2​​)​ ​là​ ​3,70 ± 0,99 giờ [11].​ ​ ô​​hình​​tế​​bào​​Caco-2​​cũng​​được​​sử​​dụng​​để​​nghiên​​cứu​​khả​​năng​​hấp​​thu​​thuốc​ M ​in​ ​vivo​ ​ở​ ​người​ ​cho​​thấy​​quá​​trình​​hấp​​thu​​và​​vận​​chuyển​​DHM​​chủ​​yếu​​diễn​​ra​​qua​​cơ​ ​chế​​khuếch​​tán​​thụ​​động,​​điều​​này​​phần​​nào​​giải​​thích​​cho​​sinh​​khả​​dụng​​thấp​​của​​DHM​ ​sau​​khi​​dùng​​đường​​uống​​[13].​​Ngoài​​ra,​​khi​​sử​​dụng​​DHM​​đường​​uống,​​một​​phần​​DHM​ ​bị​​chuyển​​hóa​​tại​​đường​​tiêu​​hóa​​và​​gan,​​phần​​còn​​lại​​được​​hấp​​thu​​vào​​máu​​và​​phân​​bố​ ​rộng​​khắp​​cơ​​thể,​​bao​​gồm​​tim,​​phổi,​​thận,…​​thậm​​chí​​có​​thể​​vượt​​qua​​hàng​​rào​​máu–não​ ​và lan rộng trong mô não [14]. Tổng quan về hệ phân tán rắn:​ ​1. Khái niệm​ ​ ệ​​phân​​tán​​rắn​​(HPTR)​​được​​định​​nghĩa​​là​​sự​​phân​​tán​​của​​một​​hoặc​​nhiều​​hoạt​ H ​chất​​(active​​ingredient)​​trong​​một​​chất​​mang​​trơ​​(inert​​carrier)​​ở​​trạng​​thái​​rắn​​[15].​​Chiou​ ​đã​​định​​nghĩa​​hệ​​phân​​tán​​rắn​​là​​“sự​​phân​​tán​​của​​một​​hoặc​​nhiều​​hoạt​​chất​​trong​​một​​chất​ ​mang​ ​trơ​ ​ở​ ​trạng​ ​thái​ ​rắn,​ ​được​ ​tạo​ ​thành​​bằng​​phương​​pháp​​đun​​nóng​​chảy,​​hoặc​​phân​ ​tán​​trong​​dung​​môi​​hoặc​​kết​​hợp​​giữa​​hai​​phương​​pháp​​này​​(nóng​​chảy–dung​​môi)”​​[16].​ ​4​ ​ hân​​tán​​rắn​​là​​một​​phương​​pháp​​nhằm​​cải​​thiện​​độ​​tan​​và​​tốc​​độ​​hòa​​tan​​của​​thuốc​​thông​ P ​qua​ ​nhiều​ ​kỹ​ ​thuật​ ​khác​ ​nhau.​ ​Việc​ ​phối​ ​hợp​ ​tá​ ​dược​ ​tan​ ​trong​ ​nước​ ​với​ ​dược​ ​chất​ ​sơ​ ​nước​ ​đã​​giúp​​cải​​thiện​​độ​​tan​​và​​tốc​​độ​​hòa​​tan​​của​​dược​​chất,​​từ​​đó​​tăng​​sinh​​khả​​dụng​ ​của thuốc. Cơ chế tăng độ tan của hệ phân tán rắn​ ​HPTR làm tăng độ tan của dược chất kém tan trong nước theo các cơ chế sau:​ -​ ​ ​Kích​ ​thước​​tiểu​​phân​​của​​dược​​chất​​được​​phân​​tán​​ở​​mức​​độ​​cực​​kì​​mịn,​​có​​thể​ ​đạt​ ​tới​ ​mức​ ​độ​ ​phân​ ​tử​ ​nếu​ ​hệ​ ​có​ ​cấu​ ​trúc​ ​dung​​dịch​​rắn.​​Khi​​HPTR​​được​​tiếp​​xúc​​với​ ​môi trường nước, dược chất giải phóng dưới dạng các hạt mịn có kích thước rất nhỏ.​ ​- Thay đổi và tăng tính thấm của dược chất khi có mặt chất diện hoạt.​ ​- Tăng độ xốp và tăng khả năng thấm ướt.​ -​ ​​Chuyển​​trạng​​thái​​dược​​chất​​từ​​dạng​​tinh​​thể​​sang​​dạng​​vô​​định​​hình​​từ​​đó​​giảm​ ​năng​ ​lượng​​cần​​thiết​​cần​​cung​​cấp​​cho​​hệ​​trong​​quá​​trình​​hòa​​tan​​dược​​chất,​​do​​vậy​​làm​ ​tăng độ tan dược chất [17].

Ưu nhược điểm của hệ phân tán rắn​ ​1. Ưu điểm​ ​ PTR​​giúp​​giảm​​kích​​thước​​tiểu​​phân​​thuốc​​có​​thể​​ở​​dạng​​phân​​tử​​hoặc​​tiểu​​phân​ H ​cực​ ​nhỏ​ ​trong​ ​nền​ ​chất​ ​mang​ ​polymer.​ ​Khi​ ​tiếp​ ​xúc​ ​với​ ​môi​ ​trường​​nước,​​polyme​​thân​ ​nước​​hòa​​tan​​từ​​đó​​tăng​​diện​​tích​​bề​​mặt​​tiếp​​xúc​​của​​dược​​chất​​với​​môi​​trường​​nước,​​làm​ ​tăng​​độ​​tan,​​tốc​​độ​​hòa​​tan,​​và​​cải​​thiện​​sinh​​khả​​dụng​​của​​dược​​chất​​[18].​​Bên​​cạnh​​đó,​ ​bào​​chế​​dưới​​dạng​​HPTR​​còn​​có​​các​​ưu​​điểm​​khác​​như​​dược​​chất​​chuyển​​dạng​​từ​​kết​​tinh​ ​sang​​dạng​​vô​​định​​hình,​​do​​vậy​​có​​thể​​tăng​​độ​​tan​​cho​​các​​dược​​chất​​tan​​kém​​trong​​nước.​ ​Hơn​​thế​​nữa,​​kỹ​​thuật​​bào​​chế​​hệ​​phân​​tán​​rắn​​được​​nghiên​​cứu​​phát​​triển​​bằng​​cách​​phối​ ​hợp​​dược​​chất​​với​​các​​tá​​dược​​khác​​như​​polymer​​với​​mục​​đích​​tạo​​liên​​kết​​giữa​​dược​​chất​ ​và​​tá​​dược,​​thay​​đổi​​cấu​​trúc​​(độ​​xốp)​​của​​hệ​​phân​​tán​​rắn,​​từ​​đó​​giảm​​sự​​kết​​tinh​​lại​​của​ ​dược​ ​chất.​​Ngoài​​ra​​các​​tá​​dược​​có​​thể​​kiểm​​soát​​khả​​năng​​thấm​​ướt​​của​​HPTR​​cũng​​có​ ​thể​​được​​phối​​hợp​​vào​​hệ​​với​​mục​​đích​​thay​​đổi​​khả​​năng​​thấm​​ướt​​của​​dược​​chất​​với​​môi​ ​trường, tăng độ tan và tốc độ hòa tan của dược chất [17]. Nhược điểm​ ​ ặc​​dù​​HPTR​​có​​nhiều​​ưu​​điểm​​nhưng​​hiện​​nay​​HPTR​ ​vẫn​​chưa​​được​​ứng​​dụng​ M ​rộng​​rãi​​trong​​các​​sản​​phẩm​​thương​​mại,​​nguyên​​nhân​​chủ​​yếu​​là​​do​​dược​​chất​​bị​​kết​​tinh​ ​lại​​do​​chịu​​tác​​động​​của​​các​​yếu​​tố​​trong​​quá​​trình​​sản​​xuất​​hoặc​​bảo​​quản​​(chịu​​tác​​động​ ​của​​nhiệt​​độ​​và​​độ​​ẩm).​​Phần​​lớn​​các​​polymer​​sử​​dụng​​trong​​hệ​​phân​​tán​​rắn​​đều​​có​​khả​ ​năng​​hút​​ẩm​​dẫn​​đến​​sự​​tạo​​mầm​​tinh​​thể​​tinh​​thể​​hoặc​​chuyển​​đổi​​từ​​dạng​​vô​​định​​hình​ ​sang​ ​dạng​ ​tinh​ ​thể,​ ​hoặc​​từ​​dạng​​tinh​​thể​​kém​​bền​​sang​​dạng​​tinh​​thể​​ổn​​định​​hơn​​trong​ ​quá​​trình​​bảo​​quản​​dẫn​​đến​​giảm​​độ​​tan​​và​​độ​​hòa​​tan.​​Bên​​cạnh​​đó​​chưa​​có​​nhiều​​nghiên​ ​5​ c​ ứu​​về​​mối​​tương​​quan​​in​​vitro​​/​​in​​vivo​​của​​HPTR,​​Mặc​​dù​​HPTR​​có​​khả​​năng​​làm​​tăng​ ​độ​​tan​​và​​tốc​​độ​​hòa​​tan,​​tuy​​nhiên​​mối​​tương​​quan​​giữa​​tăng​​độ​​tan,​​độ​​hòa​​tan​​với​​tăng​ ​hấp thu thuốc vào cơ thể vẫn cần phải được nghiên cứu và chứng minh. Phương pháp chế tạo hệ phân tán rắn​ ​ PTR​ ​có​ ​thể​ ​được​ ​bào​​chế​​bằng​​nhiều​​phương​​pháp​​khác​​nhau​​dựa​​trên​​các​​tính​ H ​chất​ ​vật​ ​lý,​ ​tính​ ​chất​ ​hóa​ ​học​ ​của​ ​dược​ ​chất​ ​và​ ​chất​ ​mang.​ ​Trong​ ​đó​​phương​​pháp​​đun​ ​chảy và phương pháp bay hơi dung môi là hai phương pháp chính để bào chế HPTR.

Phương pháp nóng chảy​ ​ ekiguchi​ ​và​ ​cộng​ ​sự​ ​[19]​ ​là​ ​những​ ​người​ ​đầu​ ​tiên​ ​sử​ ​dụng​ ​phương​ ​pháp​ ​nóng​ S ​chảy​​để​​bào​​chế​​HPTR​ ​bằng​​cách​​đun​​nóng​​dược​​chất​​và​​chất​​mang​​để​​tạo​​hệ​​đồng​​nhất,​ ​sau​ ​đó​ ​làm​ ​nguội​ ​bằng​ ​đá​ ​lạnh​​và​​nghiền​​nhỏ​​sản​​phẩm​​đến​​kích​​thước​​phù​​hợp.​​Trong​ ​quá​ ​trình​ ​nóng​ ​chảy,​ ​độ​ ​linh​ ​động​ ​phân​ ​tử​​của​​chất​​mang​​đủ​​cao​​để​​thay​​đổi​​cách​​dược​ ​chất​ ​được​ ​phân​ ​tán.​ ​Tuy​ ​nhiên,​ ​phương​​pháp​​đun​​chảy​​cũng​​tồn​​tại​​một​​số​​hạn​​chế​​như​ ​việc​​sử​​dụng​​nhiệt​​độ​​cao​​có​​thể​​gây​​phân​​hủy​​nhiều​​loại​​dược​​chất​​không​​bền​​với​​nhiệt;​ ​dược​ ​chất​​và​​chất​​mang​​không​​tương​​hợp​​hoàn​​toàn​​do​​chất​​mang​​polymer​​nóng​​chảy​​ở​ ​nhiệt độ cao, độ nhớt cao.và có độ nhớt cao. Phương pháp bay hơi dung môi​ ​ hương​​pháp​​bay​​hơi​​dung​​môi​​bao​​gồm​​hòa​​tan​​dược​​chất​​và​​chất​​mang​​vào​​một​ P ​dung​​môi​​dễ​​bay​​hơi,​​trộn​​đồng​​nhất​​dung​​dịch,​​sau​​đó​​dung​​môi​​được​​loại​​bỏ​​bằng​​cách​ ​bay​ ​hơi.​ ​Phương​ ​pháp​​này​​thường​​được​​áp​​dụng​​khi​​dược​​chất​​và​​chất​​mang​​không​​bền​ ​nhiệt​​vì​​quá​​trình​​bay​​hơi​​dung​​môi​​hữu​​cơ​​xảy​​ra​​ở​​nhiệt​​độ​​thấp.​​Các​​dung​​môi​​thường​ ​sử​​dụng​​là​​ethanol,​​chloroform​​hoặc​​hỗn​​hợp​​ethanol​​và​​dichloromethane.​​Quá​​trình​​bay​ ​hơi​​dung​​môi​​có​​thể​​tiến​​hành​​bằng​​nhiều​​cách​​khác​​nhau​​như:​​sấy​​chân​​không,​​gia​​nhiệt​ ​hỗn​​hợp​​trên​​tấm​​gia​​nhiệt,​​bay​​hơi​​chậm​​ở​​nhiệt​​độ​​thấp,​​sử​​dụng​​máy​​cô​​quay​​bay​​hơi,​ ​đông khô, phun sấy, sử dụng chất lỏng siêu tới hạn,.​ ​ ản​ ​phẩm​ ​thu​ ​được​ ​sau​ ​quá​ ​trình​ ​bay​ ​hơi​ ​sẽ​ ​được​ ​nghiền​ ​nhỏ​ ​và​ ​rây​ ​đến​ ​kích​ S ​thước​ ​phù​ ​hợp.​ ​Tuy​ ​nhiên,​ ​việc​ ​sử​ ​dụng​ ​dung​ ​môi​ ​hữu​ ​cơ,​​chi​​phí​​điều​​chế​​cao​​và​​khó​ ​khăn​​trong​​việc​​loại​​bỏ​​hoàn​​toàn​​dung​​môi​​là​​một​​số​​nhược​​điểm​​của​​phương​​pháp​​bay​ ​hơi​ ​dung​ ​môi.​ ​Ngoài​ ​ra​​chỉ​​một​​thay​​đổi​​nhỏ​​trong​​điều​​kiện​​bay​​hơi​​dung​​môi​​cũng​​có​ ​thể dẫn đến những thay đổi lớn trong hiệu quả của sản phẩm [20]. Phương pháp đồng kết tủa​ ​ hương​​pháp​​này​​được​​áp​​dụng​​để​​bào​​chế​​HPTR​​cho​​các​​dược​​chất​​khó​​tan​​trong​ P ​nước,​​đặc​​biệt​​là​​những​​dược​​chất​​có​​độ​​tan​​kém​​và​​nhiệt​​độ​​nóng​​chảy​​cao​​mà​​không​​thể​ ​bào​ ​chế​ ​bằng​ ​phương​ ​pháp​ ​nóng​ ​chảy​ ​hoặc​ ​các​ ​phương​ ​pháp​ ​dung​ ​môi​ ​khác.​ ​Đối​ ​với​ ​phương​ ​pháp​ ​này,​ ​dược​ ​chất​ ​và​ ​chất​ ​mang​ ​được​ ​hòa​​tan​​hoàn​​toàn​​trong​​dung​​môi​​hữu​ ​cơ,​​sau​​đó​​một​​chất​​gây​​kết​​tủa​​sẽ​​được​​thêm​​vào​​dẫn​​đến​​sự​​kết​​tủa​​của​​dược​​chất​​và​​chất​ ​mang.​​Hỗn​​dịch​​này​​sau​​đó​​được​​lọc​​và​​rửa​​để​​loại​​bỏ​​phần​​dung​​môi​​còn​​lại.​​Sản​​phẩm​ ​6​ t​hu​ ​được​ ​sau​ ​khi​ ​lọc​ ​và​ ​sấy​ ​khô​ ​được​ ​gọi​ ​là​ ​bột​ ​thô​ ​vi​ ​kết​ ​tủa​ ​(microprecipitated​ ​bulk​ ​powder​​–​​MPD).​​Ưu​​điểm​​của​​phương​​pháp​​này​​là​​dược​​chất​​không​​tiếp​​xúc​​với​ ​nhiệt​​độ​ ​cao nên tránh được sự phân hủy của dược chất và chất mang [18]. Phương pháp nghiền​ ​ hương​​pháp​​nghiền​​được​​áp​​dụng​​khi​​không​​thể​​đun​​chảy​​hoặc​​không​​chọn​​được​ P ​dung​ ​môi​​để​​hòa​​tan​​dược​​chất​​và​​chất​​mang.​​Hỗn​​hợp​​dược​​chất​​và​​chất​​mang​​sẽ​​được​ ​nghiền​​bằng​​cối​​chày​​hoặc​​máy​​nghiền​​với​​một​​lượng​​tối​​thiểu​​chất​​lỏng​​thích​​hợp​​trong​ ​một​​khoảng​​thời​​gian​​dài​​để​​thu​​được​​một​​khối​​bột​​nhão.​​Sau​​đó​​khối​​bột​​được​​làm​​khô,​ ​nghiền và rây thành tiểu phân có kích thước phù hợp [21].

Các chất mang thường dùng trong hệ phân tán rắn​ ​1. Yêu cầu đối với chất mang​ ​Để tăng tốc độ hòa tan và tăng sinh khả dụng, chất mang nên có các đặc tính sau:​ ​- Tá dược phải tan tốt trong môi trường nước với tốc độ hòa tan cao.​ ​- Bản chất của tá dược phải không độc.​ ​- Tá dược phải trơ về dược lý (không có hoạt tính sinh học).​ ​- Tá dược nên ổn định với nhiệt, có nhiệt độ nóng chảy thấp.​ ​- Tá dược phải có khả năng tăng độ tan trong nước của dược chất.​ ​- Tá dược phải dễ kiếm.​ ​- Tá dược phải tương thích tốt với dược chất.​ ​- Tá dược phải kinh tế, chi phí hợp lý.​ ​Một số chất mang hay được sử dụng:​ ​ olyethylen​ ​glycols​ ​(PEG​​có​​khối​​lượng​​phân​​tử​​khác​​nhau),​​đặc​​biệt​​là​​các​​PEG​ P ​có​​khối​​lượng​​phân​​tử​​4000-6000)​​thường​​được​​sử​​dụng​​phổ​​biến​​làm​​chất​​mang​​trong​​hệ​ ​phân​ ​tán​ ​rắn.​ ​Do​ ​PEG​ ​có​ ​nhiệt​ ​độ​ ​nóng​​chảy​​thấp​​(<​​65​​℃)​​và​​tan​​tốt​​trong​​nhiều​​dung​ ​môi​​hữu​​cơ​​nên​​PEG​​thích​​hợp​​để​​bào​​chế​​HPTR​​bằng​​phương​​pháp​​đun​​chảy​​và​​phương​ ​pháp​ ​bay​ ​hơi​ ​dung​ ​môi​ ​[22].​ ​Ngoài​ ​ra,​ ​PEG​ ​còn​ ​có​​khả​​năng​​hòa​​tan​​một​​số​​hoạt​​chất,​ ​tăng​ ​khả​ ​năng​ ​thấm​ ​ướt​ ​của​​hoạt​​chất​​và​​hạn​​chế​​sự​​kết​​tinh​​lại​​của​​dược​​chất​​do​​có​​độ​ ​nhớt cao.​ ​ olyvinylpyrrolidon​ ​(PVP):​ ​là​ ​một​ ​trong​ ​những​ ​polymer​ ​được​ ​sử​ ​dụng​ ​phổ​ ​biến​ P ​nhất​ ​làm​ ​chất​ ​mang​ ​để​ ​bào​ ​chế​ ​hệ​ ​phân​​tán​​rắn.​​Đây​​là​​một​​polymer​​ưa​​nước​​với​​trạng​ ​thái​ ​vật​ ​lý​ ​vô​ ​định​ ​hình,​ ​tan​ ​trong​ ​nước,​ ​ethanol,​​isopropyl​​alcohol​​và​​chloroform.​​PVP​ ​tan​ ​tốt​ ​trong​​các​​dung​​môi​​dễ​​bay​​hơi​​như​​ethanol,​​do​​vậy​​phù​​hợp​​để​​sử​​dụng​​làm​​chất​ ​mang​ ​để​​bào​​chề​​HPTR​​bằng​​phương​​pháp​​bay​​hơi​​dung​​môi.​​Ngoài​​ra​​nhiệt​​độ​​chuyển​ ​7​ t​hủy​​tinh​​(Tg),​​PVP​​tỷ​​lệ​​thuận​​với​​khối​​lượng​​phân​​tử​​của​​nó,​​cụ​​thể​​là,​​PVP​​khối​​lượng​ ​phân​​tử​​cao​​thường​​có​​nhiệt​​độ​​Tg​​cao,​​do​​vậy,​​PVP​​không​​phù​​hợp​​là​​chất​​mang​​để​​bào​ ​chế​​HPTR​​bằng​​phương​​pháp​​đun​​chảy​​vì​​nhiệt​​độ​​nóng​​chảy​​cao​​dễ​​gây​​phân​​hủy​​dược​ ​chất​​nhạy​​cảm​​với​​nhiệt​​[23].​​Hơn​​nữa,​​PVP​​có​​khối​​lượng​​phân​​tử​​cao,​​khi​​hòa​​tan​​vào​ ​nước​​sẽ​​dấn​​đến​​độ​​nhớt​​của​​hệ​​và​​khả​​năng​​trương​​nở​​của​​PVP​​trong​​dung​​dịch​​tăng,​​khi​ ​đó có thể kiểm soát khả năng hòa tan của dược chất từ HPTR.​ ​ opovidone:​​thường​​được​​biết​​đến​​với​​tên​​thương​​mại​​như​​Kollidon​​VA64​​(BASF,​ C ​Đức)​ ​là​ ​một​ ​đồng​ ​polymer​ ​của​ ​vinyl-pyrolidone​ ​và​ ​vinyl-acetate​ ​theo​ ​tỷ​ ​lệ​​6:4.​​Là​​một​ ​polymer​ ​vô​ ​định​ ​hình,​ ​tan​ ​trong​ ​nước,​ ​với​ ​nhiều​ ​ưu​ ​điểm​ ​hơn​ ​so​ ​với​ ​PVP​​nhưnhiệt​​độ​ ​phân​​hủy​​cao​​hơn​​nhiều​​so​​với​​nhiệt​​độ​​chuyển​​thủy​​tinh​​Tg.​​Điều​​này​​được​​ứng​​dụng​​để​ ​bào​​chế​​các​​HPTR​​của​​các​​dược​​chất​​có​​điểm​​nóng​​chảy​​thấp​​lẫn​​cao​​bằng​​công​​nghệ​​ép​ ​nóng chảy (HME) [23].​ ​ ẫn​​xuất​​cellulose:​​thường​​được​​sử​​dụng​​trong​​việc​​ổn​​định​​các​​hệ​​phân​​tán​​rắn​​vô​ D ​định​ ​hình​​do​​có​​khối​​lượng​​phân​​tử​​lớn,​​khả​​năng​​không​​bị​​hấp​​thu​​qua​​đường​​tiêu​​hóa,​ ​tương​​tác​​mạnh​​với​​phân​​tử​​thuốc​​và​​nhiệt​​độ​​chuyển​​thủy​​tinh​​(Tg)​​cao.​​Cellulose​​là​​một​ ​polysaccharide,​ ​khó​ ​tan​ ​trong​ ​nước​ ​và​ ​có​ ​liên​ ​kết​ ​hydro​ ​mạnh​ ​giữa​ ​các​​chuỗi.​​Các​​dẫn​ ​xuất​ ​ether​ ​và​ ​ester​ ​của​ ​cellulose​ ​tan​ ​được​ ​trong​ ​nước​ ​có​ ​thể​ ​dùng​ ​bào​ ​chế​ ​HPTR​​bằng​ ​phương​​pháp​​dung​​môi.​​Hydroxy​​propyl​​methyl​​cellulose​​(HPMC)​​tồn​​tại​​ở​​trạng​​thái​​vô​ ​định​​hình,​ ​nhiệt​​độ​​chuyển​​thủy​​tinh​​(Tg)​​khá​​cao,​​khoảng​​180℃​​và​​có​​khả​​năng​​ức​​chế​ ​kết​ ​tinh​ ​hiệu​ ​quả​ ​hơn​ ​so​ ​với​ ​PVP.​ ​Hydroxy​ ​propryl​ ​methyl​ ​cellulose​ ​acetate​ ​succinate​ ​(HPMCAS)​ ​là​ ​một​ ​ester​ ​hỗn​ ​hợp​ ​của​ ​cellulose​ ​succinate,​ ​là​ ​dẫn​ ​xuất​ ​vô​ ​định​ ​hình​ ​và​ ​lưỡng​ ​tính​ ​của​ ​cellulose.​ ​Ổn​ ​định​ ​ở​ ​nhiệt​ ​độ​ ​cao​​và​​tan​​trong​​dung​​môi​​hữu​​cơ.​​Do​​đó,​ ​phun​​sấy​​trở​​thành​​phương​​pháp​​ưu​​tiên​​để​​sản​​xuất​​hệ​​phân​​tán​​rắn​​dựa​​trên​​HPMCAS.​ ​Bên​ ​cạnh​ ​đó​ ​nhiệt​ ​độ​ ​phân​ ​hủy​ ​270℃​ ​lớn​ ​hơn​ ​nhiều​ ​so​ ​với​ ​nhiệt​ ​độ​ ​chuyển​ ​thủy​ ​tinh​ ​(120℃)​​nên​​HPMCAS​​cũng​​được​​sử​​dụng​​để​​bào​​chế​​bằng​​công​​nghệ​​ép​​nóng​​chảy​​(Hot​ ​Melt Extrusion – HME) [24] .​ ​ rea:​​là​​sản​​phẩm​​cuối​​cùng​​của​​quá​​trình​​chuyển​​hóa​​protein​​ở​​người,​​được​​coi​​là​ U ​không​​độc.​​Tan​​tốt​​trong​​nước​​và​​trong​​nhiều​​dung​​môi​​hữu​​cơ​​thông​​dụng.​​Đã​​có​​nghiên​ ​cứu​​chỉ​​ra​​rằng,​​ure​​giúp​​làm​​tăng​​tốc​​độ​​hòa​​tan​​của​​hợp​​chất​​ít​​tan​​ofloxacin​​hơn​​gấp​​3​ ​lần​​khi​​nó​​được​​tạo​​thành​​HPTR​​bằng​​phương​​pháp​​bốc​​hơi​​dung​​môi​​với​​urea​​làm​​chất​ ​mang [25]. Tổng quan về hệ tự nhũ hóa​ ​1. Khái niệm​ ​ ệ​ ​tự​ ​nhũ​ ​hóa​ ​(self-emulsifying​ ​drug​ ​delivery​ ​system​ ​-​ ​SEDDS)​​là​​một​​hỗn​​hợp​ H ​đồng​ ​nhất​ ​và​​ổn​​định​​của​​dầu,​​chất​​diện​​hoạt,​​chất​​đồng​​diện​​hoạt​​và​​hoạt​​chất.​​Khi​​pha​ ​loãng​ ​với​ ​nước​ ​dưới​ ​sự​ ​khuấy​ ​trộn​ ​nhẹ​​nhàng​​hệ​​sẽ​​tự​​nhũ​​hóa​​tạo​​ra​​nhũ​​tương​​có​​các​ ​giọt​ ​phân​ ​tán​ ​với​ ​kích​ ​thước​ ​khoảng​​20​​nm​​đến​​300​​nm.​​Tùy​​theo​​kích​​thước​​giọt​​phân​ ​tán​ ​của​ ​nhũ​ ​tương​ ​tạo​ ​thành,​ ​hệ​ ​được​ ​chia​ ​thành​ ​2​ ​nhóm​ ​gồm​ ​hệ​ ​tự​ ​vi​ ​nhũ​ ​hóa​ ​8​ (​ self-microemulsifying​ ​drug​ ​delivery​ ​system​ ​-​ ​SMEDDS)​ ​có​ ​kích​​thước​​giọt​​phân​​tán​​<​ ​100​​nm​​và​​hệ​​tự​​nano​​nhũ​​hóa​​(self​​nanoemulsifying​​drug​​delivery​​system​​–​​SNEDDS)​​có​ ​kích​ ​thước​ ​giọt​ ​phân​ ​tán​ ​trong​ ​khoảng​ ​100-300​ ​nm.​ ​Nhờ​ ​đó,​ ​khi​ ​sử​ ​dụng​ ​đường​ ​uống,​ ​SNEDDS​​không​​chỉ​​cải​​thiện​​khả​​năng​​hòa​​tan​​mà​​còn​​tăng​​cường​​khả​​năng​​hấp​​thu​​của​ ​thuốc vào hệ tuần hoàn, do kích thước giọt nhỏ dẫn đến diện tích bề mặt tiếp xúc lớn [26].

Thành phần của hệ tự nhũ hóa​ ​ hành​ ​phần​​chính​​của​​hệ​​tự​​nhũ​​hóa​​gồm​​hoạt​​chất,​​pha​​dầu​​(Oil),​​chất​​diện​​hoạt​ T ​(Surfactant) và chất đồng diện hoạt (Co-surfactant). Hoạt chất​ ​ oạt​ ​chất​ ​được​ ​đưa​ ​vào​ ​SEDDS​ ​chủ​ ​yếu​ ​gồm​ ​những​ ​chất​ ​thuộc​ ​nhóm​ ​II​ ​và​ ​IV​ H ​trong​​bảng​​phân​​loại​​sinh​​dược​​học​​bào​​chế​​(BCS),​​thân​​dầu,​​tan​​kém,​​có​​giá​​trị​​log​​P​​>​​4,​ ​điểm​ ​nóng​ ​chảy​ ​thấp​ ​và​ ​liều​ ​điều​ ​trị​ ​thấp.​ ​Nhóm​ ​này​ ​có​ ​đặc​ ​điểm​ ​là​ ​khả​ ​năng​​hòa​​tan​ ​trong nước kém.​ ​ ặc​ ​tính​ ​của​ ​hệ​​SEDDS​​chịu​​tác​​động​​bởi​​các​​tính​​chất​​lý​​hóa​​của​​hoạt​​chất​​như​ Đ ​Log​​P,​​pKa​​và​​khối​​lượng​​phân​​tử.​​Sự​​kết​​hợp​​hoạt​​chất​​vào​​SEDDS​​có​​thể​​làm​​gia​​tăng​ ​kích​ ​thước​ ​giọt​ ​phân​ ​tán​ ​của​​nhũ​​tương​​hình​​thành.​​Các​​đặc​​điểm​​lý​​hóa​​khác​​nhau​​của​ ​hoạt​​chất​​như​​log​​P,​​pKa,​​cấu​​trúc​​phân​​tử,​​khối​​lượng​​phân​​tử,​​nhóm​​chức​​ion​​hóa,…​​đều​ ​ảnh​​hưởng​​đáng​​kể​​đến​​đặc​​tính​​của​​SEDDS,​​bao​​gồm​​trạng​​thái​​pha,​​kích​​thước​​giọt​​và​ ​phân bố kích thước giọt phân tán trong quá trình tự nhũ hóa [27]. Pha dầu​ ​ ha​ ​dầu​ ​là​ ​thành​ ​phần​ ​thiết​ ​yếu​ ​trong​ ​SEDDS,​​với​​các​​tính​​chất​​lý​​hóa​​như​​khối​ P ​lượng​ ​phân​ ​tử,​ ​độ​ ​phân​ ​cực​ ​và​ ​độ​ ​nhớt​ ​có​ ​tác​ ​động​ ​lớn​ ​đến​ ​quá​ ​trình​​tự​​nhũ​​hóa,​​kích​ ​thước​​giọt​​phân​​tán,​​khả​​năng​​hòa​​tan​​hoạt​​chất,​​quá​​trình​​vận​​chuyển​​thuốc​​qua​​hệ​​thống​ ​bạch​ ​mạch​ ​và​ ​khả​ ​năng​ ​bảo​ ​vệ​ ​hoạt​ ​chất​ ​khỏi​ ​sự​ ​phân​ ​hủy​ ​bởi​ ​enzym​ ​protease​ ​trong​ ​đường​​tiêu​​hóa​​[28].​​Việc​​lựa​​chọn​​pha​​dầu​​cần​​cân​​đối​​giữa​​khả​​năng​​hòa​​tan​​hoạt​​chất​ ​và khả năng tạo nhũ tương với những đặc tính mong muốn.​ ​ ác​ ​loại​ ​dầu​ ​chứa​ ​triglycerid​ ​chuỗi​ ​trung​ ​bình​ ​và​ ​dài​ ​(TG)​ ​với​ ​mức​ ​độ​ ​bão​ ​hòa​ C ​khác​ ​nhau​ ​thường​ ​được​ ​sử​ ​dụng​ ​để​ ​bào​​chế​​SNEDDS​​[29].​​Độ​​tan​​của​​dược​​chất​​trong​ ​pha​​dầu​​là​​yếu​​tố​​quan​​trọng​​để​​lựa​​chọn​​loại​​dầu,​​từ​​đó​​tăng​​khả​​năng​​hấp​​thu​​thuốc​​Tuy​ ​nhiên,​​cũng​​có​​nghiên​​cứu​​đã​​chứng​​minh​​rằng​​SNEDDS​​bào​​chế​​từ​ ​dầu​​có​​khả​​năng​​hòa​ ​tan​​dược​​chất​​thấp​​nhất​​nhưng​​lại​​mang​​lại​ ​khả​​năng​​hấp​​thu​​thuốc​​cao​​nhất.​​Như​​vậy,​​độ​ ​tan​​của​​dược​​chất​ ​trong​​dầu​​không​​phải​​lúc​​nào​​cũng​​cho​​hiệu​​suất​​in​​vivo​​lớn​​nhất​ ​[30].​ ​Các​​loại​​dầu​​thực​​vật​​tự​​nhiên​​có​​thể​​ăn​​được​​như​​dầu​​thầu​​dầu,​​dầu​​đậu​​nành,​​dầu​​dừa,.​ ​cũng​ ​được​ ​ưu​ ​tiên​ ​sử​ ​dụng.​ ​Tuy​ ​nhiên,​ ​chúng​ ​có​​nhược​​điểm​​là​​khả​​năng​​tải​​nạp​​thuốc​ ​thấp​ ​và​ ​khả​ ​năng​ ​nhũ​ ​hóa​ ​kém​ ​[31].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ