ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, giá lợn luôn trong tình trạng bấp bênh, những cơ sở sản xuất chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ đang ngày càng bị thu hẹp dần thay thế vào đó là những cơ sở chăn nuôi công nghiệp lớn. Đó là điều tất yếu trong cuộc cạnh tranh về giá cả, không chỉ giá lợn bấp bênh, người chăn nuôi đang còn phải đối mặt với giá cám tăng liên tục, chi phí sản xuất quá lớn trong khi lợi nhuận lại thấp. Bên cạnh những yếu tố về giá, thị trường trong nước vẫn luôn trong tình trạng báo động, là một nước nông nghiệp chăn nuôi bao đời nhưng gần đây chúng ta phải nhập thịt lợn từ các nước quanh khu vực. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tổ chức chăn nuôi với quy mô lớn, công nghiệp để giảm giá thành sản phẩm.
Để làm được điều đó thì nhân lực ngành chăn nuôi, những thế hệ kỹ sư làm được việc là một vấn đề quan trọng. Trước thực tế sinh viên ngành Chăn nuôi – Thú y vẫn nặng về lý thuyết mà thiếu kiến thức làm việc tại các trang trại, khoa Chăn nuôi - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tổ chức các đợt thực tập giáo trình nhằm giúp củng cố kiến thức lý thuyết, nâng cao kiến thức, tay nghề và kỹ năng thực hành cho sinh viên, đồng thời rèn luyện kĩ năng sống, làm việc ở môi trường trang trại. KHẢO SÁT TRANG TRẠI 1. Thông tin chung về trang trại Trang trại của anh Trần Xuân Thời thuộc Công ty TNHH chăn nuôi Gia Huy, có địa chỉ tại xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Trang trại với quy mô thường xuyên 1000 thịt, 100 nái được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2014 chuyên cung cấp thịt lợn cho các cơ sở giết mổ trên địa bàn Huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ảnh chụp tramg trại từ trên cao Cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Đông nam, nằm gần tuyến đường đê, bên cạnh sông Hồng và xa khu dân cư, chợ sinh hoạt gần 2 km nên có thể nói trang trại đảm bảo khá tốt an toàn sinh học trong chăn nuôi. Trại được xây dựng trên diện tích đất 1,3 ha với diện tích dành cho chăn nuôi là 0,4 ha. Phía bên dưới là hình ảnh sơ đồ mặt các ngang của toàn bộ trang trại.
5 Ảnh: Sơ đồ mặt cắt ngang của trang trại Trại bao gồm 2 khu riêng biệt gồm khu vực sinh hoạt và khu vực sản xuất, giữa 2 khu vực là một quãng đường vôi trắng và nhà sát trùng để khử trùng cho công nhân trước khi bước vào khu vực sản xuất. Các công nhân khi di chuyển giữa 2 khu vực này sẽ phải tắm rửa và thay quần áo trong trại, đồng thời tiến hành tắm sát trùng trong nhà sát trùng. Trong quá trình làm việc không được di chuyển giữa 2 khu vực, chỉ khi hoàn thành công việc hoặc có công việc mới được ra khỏi khu vực sản xuất. Cơ cấu đàn lợn của trang trại trong 3 năm gần đây, có thể thấy không có quá nhiều sự biến động giữa các năm.
Đàn lợn luôn được duy trì với 100 con nái và 1000 con thịt đem lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình. 6 Bảng 1: Thông kê cơ cấu đàn trong 3 năm gần đây 2020 2021 2022 Loại Giống lợn n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%) Nái 20 20 0,74 20 0,73 50 1,84 hậu bị Nái sinh 120 120 4,44 120 4,35 120 4,42 sản Đực 1 1 0,04 1 0,04 1 0,04 giống 2 2 0,07 2 0,07 2 0,07 Lợn con theo 854 31,58 846 30,67 841 30,96 mẹ Lợn con cai sữa 650 24,04 712 25,82 690 25,41 Lợn thịt 1057 39,09 1057 38,32 1012 37,26 Tổng 2704 100 2758 100 2716 100 2. Chi tiết về trang trại, cơ cấu nhân sự Chuồng nuôi được thiết kế theo mô hình khép kín để đảm bảo an toàn sinh học. Các khu chuồng được xây dưng theo hướng Đông và Nam.
Mỗi khu chuồng đều được trang bị hệ thống dàn mát và quạt gió đường hầm công nghiệp, tuỳ thuộc vào số lượng đàn cùng với tình trạng toàn đàn mà số quạt được bật sẽ điều chỉnh. Nền chuồng được bằng tấm đan bê tông, xi măng, tấm đan bằng nhựa, tuỳ thuộc vào khu chuồng mà sẽ có thiết kế khác nhau, ví dụ chuồng hậu bị, chuồng mang thai 1, sau cai sữa và chuồng thịt là nền chuồng bê tông, chuồng phối, chuồng bầu và chuồng đẻ sử dụng tấm đan bê tông kết hợp với tấm đan nhựa. Chiều dài của chuồng ở các khu là giống nhau, đều có chiều dài 42 m và chiều rộng 17m. Chuồng có mái tôn chống nóng bên trên, ở giữa là các tấm bạt nhôm giúp giảm sự ảnh hưởng của nhiệt độ tác động đến chuồng nuôi.
Hệ thống tường bao quanh với vật liệu gạch đỏ và xi măng thông thường, trại hiện đang sử dụng hệ thống dàn mát phun nước dùng cho những hôm thời tiết nóng bức. Xung quanh trang trại là hàng rào lưới B40, ngăn cách trại với khu vực bên ngoài. Ngoài hàng rào bằng vật lý, còn có hàng rào bằng tự nhiên gồm những cây to xung quanh trại. Trang trại bao gồm 5 khu vực chuồng cụ thể như sau: 7 - Chuồng đực: Là nơi nuôi đực giống của trang trại.
Đực giống được nhập từ công ty TNHH Cargill Việt Nam. Hiện tại tại chuồng đực đang nuôi 2 con đực giống Duroc đã đến tuổi khai thác và 1 đực giống Yorkshire đa khai thác được 2 năm. Đồng thời mỗi ô chuồng nái chờ phối và mang thai sẽ có thêm 1 con đực được đặt ở đầu chuồng để kích thích lên giống và thử những nái. Khu vực pha chế tinh: Phòng tinh được đặt ngay trong chuồng lợn đực giống để tiện cho quá trình khai thác và phối giống.
Trong phòng tinh sẽ được đảm bảo vô trùng. Bao gồm các thiết bị như giấy lọc, tủ lạnh để bảo quản, ca hứng tinh, khăn lọc, thuốc pha môi trường, giấy bọc, que phối,… - Chuồng nái mang thai và chờ phối: gồm có 2 chuồng mang thai và chờ phối, mỗi dãy chuồng bao gồm 29 ô, phía cuối chuồng có lối thông sang khu vực chuồng lợn đẻ. Do số lượng lợn nuôi không quá nhiều, lợn nái mang thai và chờ phối sẽ được sắp xếp xen kẽ với nhau và được đánh dấu bằng thẻ nái để tiện theo dõi. Lợn đực sẽ được đặt ở ngay đầu quạt gió để xác định lợn mang thai cũng như kích thích lên giống.
Lợn mang thai trước thời gian dự kiến đẻ (Thời gian mang thai đến khi đẻ dự kiến là 115 ngày) từ 3 - 5 ngày thì chuyển lên chuồng đẻ, tuy nhiên có một bất cập ở trang trại là tình trạng phối tự do, không phối theo nhóm, khi nào nái động dục sẽ tiến hành phối. - Chuồng đẻ: Chuồng đẻ nằm sát bên chuồng mang thai 2, gồm có tổng cộng 30 ô chuồng cho lợn nái mang thai, kích thước ô 2,2x2, điều đặc biệt ở đây là số tấm đan nhựa là 4 thay vì là 3 như ở các trang trại khác. Điều này giúp tạo ra không gian rộng rãi cho lợn con. Thời gian nuôi con trung bình khoảng 25 ngày, nái mang thai sau giai đoạn cai sữa sẽ được chuyển qua chuồng bầu và bắt đầu tiến hành phối - Chuồng cai sữa: Lợn con sau khoảng thời gian theo mẹ từ 25 – 28 ngày sẽ được chuyển đến khu vực cai sữa, lúc này lợn con khoảng 6 – 8 kg/con.
Dãy chuồng cai sữa gồm tổng cộng 22 ô, với kích thước mỗi ô 4x6x1 lợn con sau khi được chuyển xuống đây sẽ bắt đầu tiến hành ghép đàn phù hợp với khối lượng, những con ốm yếu, dị tật sẽ bị loại thải cho xuống cuối chuồng. Tuỳ vào giai đoạn nuôi lợn mà sẽ thay đổi mật độ nuôi cho phù hợp. - Chuồng lợn thịt: Chuồng lợn thịt gồm 18 ô với diện tích 4,5x7x1, ở giữa là đường hành lang rộng 1m để thuận tiện cho việc chở cám. Lợn sau cai sữa nuôi đến 60 ngày tuổi với khối lượng đạt 30 – 50 kg sẽ được chuyển tới chuồng thịt.
Khi chuyển xuống dưới chuồng thịt sẽ tiến hành tách ghép đàn, việc tách ghép đàn phù hợp với khối lượng giúp hạn chế tình trạng đánh nhau giữa các con trong bầy, đồng thời sẽ đảm bảo sự đồng đều về đàn khi tiến hành xuất bán. 8 - Các khu vực phụ trợ như nhà kho chứa cám, khu vực bảo quản vacxin, hệ thống máy bơm, ao cá, nhà ăn công nhân, nhà tắm sát trùng, máy phát điện được xây dựng phù hợp với quy mô của trang trại. Trang trại hiện tại có 1 kỹ thuật và cũng là chủ trại (anh Thời) và 3 công nhân cùng với đó là 4 sinh viên thực tập. Quy trình vệ sinh thú y Trang trại được trang bị hệ thống sát trùng ở các khu vực từ bên ngoài vào trong trang trại, từ khu vực sinh hoạt vào khu sản xuất.
Công nhân, khách tham quan khi tiến hành vào trang trại sẽ phải thay dép, tắm sát trùng và cách ly ít nhất 1 ngày tại khu vực sinh hoạt. Những vật dụng, hoa quả thực phẩm được xịt qua cồn trước khi được sử dụng tại trang trại. Đối với mỗi khu chuồng trước khi nuôi, sau mỗi đợt nuôi đều được sát trùng và bỏ trống 3 - 5 ngày, được phun sát trùng toàn trang trại định kỳ 2 lần/tuần. Việc phun sát trùng lối đi được tiến hành đều đặn 2 ngày/tuần.
Trước khi công nhân tiến hành vào chuồng làm việc phải tắm qua nước sát trùng và xà phòng, đồng thời thay quần áo công nhân, trước mỗi cửa chuồng sẽ có một chậu nước sát trùng dùng để nhúng ủng. Trang trại tự chủ được nhiều loại rau củ quả như xu xu, thịt lợn, rau ngót, bí,. nên đây cũng làm một điểm lợi trong việc đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi. Quy trình xử lý chất thải 4.
Quản lý chất thải rắn: Hằng ngày sẽ thu gom phân vào buổi sáng và buổi chiều bằng cách dùng cào sắt cào, gầu hót hót phân cho vào bao tải đối với chuồng bầu, chuồng đẻ hoặc sử dụng vòi phun nước áp suất cao xịt phân xuống theo dòng nước vào hầm biogas. Phân từ chuồng lợn con theo mẹ và lợn con sau cai sữa sẽ được đổ xuống ao thuỳ sinh. Quản lý chất thải lỏng, khí: Quạt gió công nghiệp sẽ hút hết khí ô nhiễm trong chuồng ra phía bên ngoài, do vị trí xây dựng cách xa khu dân cư gần 2km trong khi quy mô lại không quá lớn nên không quá lo lắng về chất thải khí. Đồng thời khi phân qua hầm biogas sẽ giảm đảng kể lượng khí thải, chất thải lỏng.