Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đầu tư công giữ vai trò là một động lực vĩ mô quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại các quốc gia đang trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nguồn vốn hình thành từ ngân sách nhà nước không chỉ tác động trực tiếp lên tổng cầu xã hội trong ngắn hạn mà còn gia tăng năng lực cung ứng dài hạn thông qua việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội.

Tại tỉnh Hà Giang – một địa phương miền núi biên giới phía Bắc có địa hình chia cắt phức tạp, xuất phát điểm kinh tế thấp và tỷ lệ hộ nghèo cao (xấp xỉ 50% theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025) – nguồn lực đầu tư toàn xã hội được cấu thành từ ba khu vực: khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong cơ cấu này, nguồn vốn đầu tư công đóng vai trò dẫn dắt nhưng quy mô nguồn vốn ngân sách địa phương còn hạn hẹp, khó thay thế, trong khi nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng lại rất lớn. Thực tế triển khai công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn nhà nước tại địa phương trong giai đoạn 2020 - 2022 bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc, từ khâu phân bổ vốn đến hiệu quả thi công và nghiệm thu đưa vào khai thác.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế đầu tư của sinh viên Bùi Minh Ngọc (Học viện Chính sách và Phát triển) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu quản lý nhà nước về đầu tư tại địa phương là Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Giang.
  2. Phân tích thực trạng quy mô, cơ cấu huy động và phân bổ nguồn vốn đầu tư phát triển, trọng tâm là nguồn vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2020 - 2022.
  3. Đánh giá việc phân bổ vốn xây dựng cơ bản theo ngành, lĩnh vực và theo đơn vị hành chính cấp huyện; đồng thời đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua hệ số gia tăng vốn - sản lượng (ICOR) trong mối tương quan so sánh với bình quân cả nước.
  4. Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế còn tồn tại trong quản lý nguồn lực và phân bổ vốn hằng năm, làm cơ sở định hướng sử dụng vốn đầu tư công gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang đến năm 2030.
  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình huy động, phân bổ và hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư công (bao gồm nguồn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA và vốn trái phiếu chính phủ).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn tỉnh Hà Giang, bao gồm 11 đơn vị hành chính cấp huyện (01 thành phố và 10 huyện).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2020 - 2022, có liên hệ cập nhật số liệu kinh tế và hoạt động ngân hàng 9 tháng đầu năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu sử dụng các khái niệm nền tảng của kinh tế học đầu tư và tài chính công, bao gồm: vốn đầu tư công, vốn đầu tư phát triển (ĐTPT), vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) tập trung, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), giá trị tăng thêm (VA) và hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ICOR (Incremental Capital-Output Ratio).

Khung khổ pháp lý và văn bản quy phạm quản lý được tác giả viện dẫn làm căn cứ thẩm quyền và định hướng thực tiễn bao gồm:

  • Luật Ngân sách nhà nước;
  • Quyết định số 37/2008/QĐ-UBND ngày 17/10/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang quy định về chức năng, nhiệm vụ của Sở Kế hoạch và Đầu tư;
  • Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày 24/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến công tác đo đạc, cấp giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai;
  • Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội khóa XIV phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030;
  • Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phát triển khoa học và công nghệ;
  • Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 07/04/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch xây dựng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn đến năm 2030;
  • Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 25/03/2021 của Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch số 213/KH-UBND ngày 22/07/2021 của UBND tỉnh Hà Giang triển khai Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030;
  • Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVIII.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp phân tích - tổng hợp số liệu thứ cấp, thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ trọng và phương pháp so sánh chuỗi thời gian (so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các năm 2020, 2021, 2022 và so sánh cùng kỳ). Báo cáo cũng vận dụng công thức tính toán chỉ số ICOR để lượng hóa hiệu quả chuyển hóa vốn đầu tư thành mức tăng trưởng sản phẩm xã hội. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ các báo cáo định kỳ của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Giang, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang và số liệu của Cục Thống kê địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan chung về Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Giang

Chương này tập trung trình bày lịch sử hình thành, địa vị pháp lý, bộ máy tổ chức cùng chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Giang (trụ sở tại số 188 đường Trần Hưng Đạo, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hà Giang). Sở là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có tư cách pháp nhân, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh và sự hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Chức năng cơ bản của Sở là tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về: quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; cơ chế chính sách quản lý kinh tế; đầu tư trong nước và nước ngoài; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ phi chính phủ (NGO); quản lý đấu thầu; đăng ký kinh doanh và tổng hợp các vấn đề kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân.

Về tình hình hoạt động chuyên môn trong hai năm 2022 và 2023:

  • Năm 2022: Sở đã trình phê duyệt 12 dự án khởi công mới, tham mưu điều chỉnh chủ trương đầu tư 17 dự án; ban hành 19 văn bản chỉ đạo đôn đốc giải ngân vốn đầu tư công; tham mưu cho UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư 18 dự án ngoài ngân sách.
  • Năm 2023: Tham mưu hoàn thành hơn 3.500 nhiệm vụ đúng hạn; triển khai lập Quy hoạch tỉnh Hà Giang thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cho hơn 1.100 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc (trong đó có 374 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký trên 1.200 tỷ đồng); tỷ lệ nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đạt trên 96% (tăng 18% so với năm 2022); hỗ trợ 15 doanh nghiệp, hợp tác xã chuyển đổi số với kinh phí 500 triệu đồng.

Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2020 - 2022

Chương 2 là nội dung trọng tâm của báo cáo, phân tích toàn diện bối cảnh kinh tế - xã hội và bức tranh thực tế về phân bổ, sử dụng vốn đầu tư công tại tỉnh Hà Giang.

Khái quát kinh tế - xã hội địa phương: Hà Giang có diện tích tự nhiên 7.884,37 km2, đường biên giới dài hơn 277,5 km tiếp giáp hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc). Địa hình phân hóa thành 3 tiểu vùng rõ rệt: vùng cao núi đá phía Bắc (cao nguyên đá Đồng Văn), vùng cao núi đất phía Tây (vòm nâng sông Chảy) và vùng núi thấp. Năm 2022, dân số trung bình toàn tỉnh đạt 892.723 người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 84,05%; lực lượng lao động có việc làm là 369.825 người (ngành nông - lâm - thủy sản chiếm tới 59,90%). Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cuối năm 2022 là 49,95% (tương ứng 70.318 hộ nghèo, chiếm 37,08% và 24.409 hộ cận nghèo, chiếm 12,87%).

Năm 2022, quy mô GRDP theo giá hiện hành đạt 30.571,1 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng đạt 7,62% (giá so sánh đạt 16.286 tỷ đồng); GRDP bình quân đầu người đạt 34,24 triệu đồng/người/năm. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 2.565 tỷ đồng (đạt 132,7% dự toán Trung ương giao). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp - xây dựng.

Năm Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp – Xây dựng Dịch vụ
2020 28,0% 26,0% 43,0%
2021 26,8% 28,9% 42,3%
2022 23,6% 27,5% 43,9%

Thực trạng phân bổ nguồn vốn đầu tư công: Nguồn vốn đầu tư công của tỉnh hình thành từ 4 nguồn: ngân sách trung ương (NSTW), ngân sách địa phương (NSĐP), vốn nước ngoài (ODA) và trái phiếu chính phủ. Riêng năm 2022, vốn NSTW giao đạt 2.969 tỷ đồng (trong đó vốn trong nước là 1.514 tỷ đồng, bao gồm 500 tỷ đồng bố trí cho dự án giao thông huyết mạch cải tạo đường ĐT.177 đoạn Bắc Quang – Xín Mần; lĩnh vực hoạt động kinh tế bố trí 1.134 tỷ đồng cho 35 dự án; vốn ODA là 769,455 tỷ đồng cho 7 dự án chuyển tiếp). Vốn cân đối NSĐP địa phương giao đạt 1.170,17 tỷ đồng (chủ yếu từ nguồn thu tiền sử dụng đất 710 tỷ đồng và vốn chi xây dựng cơ bản tập trung 781,77 tỷ đồng).

Quy mô vốn đầu tư phát triển (ĐTPT) và vốn đầu tư công (ĐTC):

Chỉ tiêu Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
Tổng quy mô vốn ĐTPT (tỷ đồng) 11.699 11.701 13.601
Vốn ĐTPT bằng nguồn vốn ĐTC (tỷ đồng) 4.157 3.119 4.204
Tỷ trọng vốn ĐTC / Tổng vốn ĐTPT (%) 35,52% 26,66% 30,90%

Vốn đầu tư phát triển tăng từ 11.699 tỷ đồng (2020) lên 13.601 tỷ đồng (2022). Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư công giảm mạnh trong năm 2021 (xuống 3.119 tỷ đồng, chiếm 26,66%) do dịch Covid-19 làm chậm tiến độ thi công và giải ngân, trước khi phục hồi mạnh mẽ vào năm 2022 đạt 4.204 tỷ đồng (chiếm 30,90%).

Phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo ngành, lĩnh vực: Vốn xây dựng cơ bản được chia cho 12 lĩnh vực, trong đó 4 lĩnh vực chiếm tỷ trọng chi phối:

  1. Giao thông vận tải: Chiếm tỷ trọng cao nhất (17,02% vào năm 2022), tập trung vào các trục đường liên xã, đường phục vụ sản xuất và sửa chữa cầu yếu.
  2. Nông, lâm nghiệp, thủy lợi và thủy sản: Chiếm 16,05%, đầu tư xây dựng kiên cố hóa đê kè chống sạt lở sông suối và hồ chứa nước phục vụ sản xuất.
  3. Y tế: Chiếm 15,51%, gia tăng mạnh từ năm 2021 (chiếm khoảng 23% cơ cấu vốn năm này) để sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị bệnh viện tuyến huyện ứng phó dịch bệnh.
  4. Giáo dục và đào tạo: Chiếm 14,38%, tập trung xây mới, cải tạo phòng học, nhà đa năng từ bậc mầm non đến trung học phổ thông.

Giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành: Năm 2020 đạt 5.436 tỷ đồng; năm 2021 giảm 9,49% xuống 4.981 tỷ đồng (do khu vực doanh nghiệp giảm 11,07% và khu vực dân cư/xã phường giảm 7,44% bởi biến động giá vật liệu và dịch bệnh). Năm 2022, giá trị sản xuất phục hồi đạt 8.436,9 tỷ đồng, tăng 12,54% so với năm 2021 (khu vực doanh nghiệp đạt 3.736,09 tỷ đồng, tăng 25,26%; khu vực xã, phường, hộ dân cư đạt 4.700,81 tỷ đồng, tăng 4,14%).

Phân bổ vốn đầu tư công theo địa bàn cấp huyện: Việc phân bổ vốn có sự chênh lệch lớn theo mức độ ưu tiên đô thị và dự án trọng điểm theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII:

  • Thành phố Hà Giang luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất (18,45% năm 2022, đạt 2.509 tỷ đồng) do là trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh.
  • Huyện Yên Minh chiếm trên 14,1% (đạt 1.956 tỷ đồng năm 2022).
  • Huyện Xín Mần chiếm 11,77% (1.601 tỷ đồng năm 2022).
  • Huyện Vị Xuyên chiếm 10,85% (1.476 tỷ đồng năm 2022).
  • Huyện Bắc Quang chiếm 7,92% (1.077 tỷ đồng năm 2022); Bắc Mê chiếm 7,88% (1.071 tỷ đồng).
  • Các huyện vùng cao còn lại có tỷ trọng vốn thấp hơn: Quang Bình (5,30%), Mèo Vạc (5,37%), Hoàng Su Phì (4,13%), Quản Bạ (3,14%).

Đo lường hiệu quả qua hệ số ICOR:

Năm Cả nước Tỉnh Hà Giang
2020 12,17 14,28
2021 15,54 18,23
2022 9,62 11,28
Giai đoạn 2020 - 2022 12,44 14,60

Hệ số ICOR bình quân giai đoạn 2020 - 2022 của Hà Giang ở mức 14,60, cao hơn đáng kể so với mức bình quân cả nước (12,44). Năm 2021, chỉ số này tăng vọt lên mức 18,23 (cả nước là 15,54), phản ánh hiệu quả sử dụng vốn sụt giảm sâu do dịch bệnh, giá vật liệu tăng cao, công trình chậm tiến độ. Đến năm 2022, ICOR giảm xuống 11,28, cho thấy hiệu quả đầu tư đã được cải thiện khi các dự án trọng điểm được đẩy nhanh giải ngân.

Chương 3: Đánh giá chung về tình hình sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Chương 3 tổng kết các ưu điểm và các điểm nghẽn then chốt, đồng thời nêu định hướng phát triển của tỉnh đến năm 2030:

Ưu điểm:

  • Nguồn vốn đầu tư công đã bám sát các mục tiêu phát triển hạ tầng thiết yếu: mạng lưới giao thông huyết mạch, hạ tầng đô thị, cấp thoát nước, bệnh viện, trường học và 3 Chương trình mục tiêu quốc gia (Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững, Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi).
  • Các dự án hạ tầng giao thông quy mô lớn được xúc tiến (cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang giai đoạn 1, nâng cấp đường ĐT.177 Bắc Quang – Xín Mần, đường Minh Ngọc – Mậu Duệ, đường ĐT.183).
  • Đầu tư công đóng vai trò đòn bẩy kích thích tăng trưởng GRDP, tạo điều kiện phát huy các thế mạnh địa phương: kinh tế cửa khẩu (cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy), du lịch sinh thái - văn hóa (Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn), công nghiệp thủy điện vừa và nhỏ, khai khoáng và phát triển nông nghiệp đặc sản (cam sành, chè Shan Tuyết, mật ong bạc hà).

Hạn chế và nguyên nhân:

  • Quản lý nguồn lực: Nhu cầu vốn hạ tầng quá lớn nhưng nguồn vốn ngân sách nhà nước (đặc biệt là ngân sách địa phương) chưa được quản lý tập trung, thống nhất về mục tiêu và cơ chế, gây khó khăn cho việc huy động và lồng ghép nguồn lực.
  • Phân bổ kế hoạch vốn: Công tác lập và tham mưu phân bổ vốn hằng năm (nhất là nguồn ODA, trái phiếu chính phủ) chưa đánh giá sát thực tế tiến độ và khả năng hấp thụ vốn của từng dự án. Việc giao vốn chủ yếu dựa vào trần hạn mức trung hạn và đề xuất một chiều từ các ngành, địa phương.
  • Hiệu quả sử dụng vốn thấp: Hiện tượng bố trí vốn phân tán, dàn trải dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn cục bộ trong quá trình thi công, kéo dài thời gian hoàn thành, chậm bàn giao đưa vào khai thác, làm tăng chi phí và đẩy hệ số ICOR lên cao.

Định hướng phát triển đến năm 2030: Tỉnh định hướng cấu trúc lại không gian kinh tế thành 4 hành lang phát triển chính (gồm hành lang cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang, Quốc lộ 2 kết nối cửa khẩu quốc tế; hành lang biên mậu du lịch đường tỉnh 178 – Quốc lộ 4C – Quốc lộ 4D; hành lang kinh tế đô thị - dịch vụ - công nghiệp Quốc lộ 279; hành lang kinh tế du lịch dịch vụ Quốc lộ 280 – Quốc lộ 2C). Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư công có trọng tâm, phấn đấu giảm nghèo đa chiều bình quân 4%/năm (các huyện nghèo giảm 6%/năm), mở rộng không gian đô thị và kiểm soát nợ xấu ngân hàng dưới mức 1%.

Kết quả và đóng góp

Báo cáo thực tập tốt nghiệp đạt được các kết quả cụ thể:

  • Hệ thống hóa số liệu thực chứng: Phản ánh bức tranh chi tiết về cơ cấu đầu tư công tỉnh Hà Giang giai đoạn 2020 - 2022 qua chuỗi số liệu thực tế về GRDP, tổng vốn đầu tư phát triển (tăng từ 11.699 tỷ lên 13.601 tỷ đồng), tỷ trọng vốn đầu tư công và phân bổ chi tiết cho 12 ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội.
  • Lượng hóa hiệu quả kinh tế: Xác định hệ số ICOR của tỉnh Hà Giang đạt bình quân 14,60 trong giai đoạn 2020 - 2022 (năm 2020: 14,28; năm 2021: 18,23; năm 2022: 11,28), từ đó chỉ ra sự chênh lệch về hiệu quả chuyển hóa vốn đầu tư của Hà Giang so với mức bình quân cả nước (12,44).
  • Chỉ ra các điểm nghẽn quản lý: Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi gây suy giảm hiệu quả đầu tư công tại địa phương, gồm: phân bổ dàn trải, năng lực hấp thụ vốn của dự án chưa được thẩm định kỹ, thời gian thi công kéo dài và công tác phối hợp lồng ghép nguồn vốn ngân sách địa phương còn thiếu tập trung.
  • Gắn kết đầu tư công với quy hoạch không gian: Phân tích sự phù hợp giữa các danh mục dự án khởi công mới với chiến lược 4 hành lang kinh tế và các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo tự nhìn nhận của tác giả trong lời cảm ơn và phần mở đầu, báo cáo còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện thời gian thực tập có hạn và năng lực nhận thức của sinh viên đại học.

Về mặt dữ liệu, các chỉ tiêu kinh tế của năm 2023 mới dừng lại ở kết quả ước tính 9 tháng đầu năm, chưa có chuỗi số liệu trọn vẹn cả năm để đánh giá chu kỳ hoàn thiện kế hoạch đầu tư công sau đại dịch Covid-19. Về mặt phương pháp, nghiên cứu dựa hoàn toàn vào số liệu thứ cấp tổng hợp của các cơ quan quản lý, chưa thực hiện các điều tra khảo sát vi mô đối với các ban quản lý dự án, doanh nghiệp xây dựng hoặc người dân thụ hưởng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá toàn diện chu kỳ kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2021 - 2025; áp dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ tác động lan tỏa của vốn đầu tư công đối với việc thu hút đầu tư tư nhân và xóa đói giảm nghèo tại các huyện biên giới của tỉnh Hà Giang.

Giá trị tham khảo

Báo cáo là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên các chuyên ngành Kinh tế đầu tư, Quản lý kinh tế, Quản lý công và Tài chính công khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp về đề tài quản lý vốn ngân sách và đầu tư công tại các địa phương miền núi.

Nội dung báo cáo cung cấp hệ thống bảng biểu so sánh chi tiết, cấu trúc phân tích logic từ tổng quan cơ quan quản lý (Sở Kế hoạch và Đầu tư) đến thực trạng phân bổ nguồn vốn theo ngành và địa bàn huyện. Phương pháp tính toán và phân tích hệ số ICOR cấp tỉnh là một chỉ dẫn hữu ích cho người nghiên cứu khi cần lượng hóa hiệu quả sử dụng vốn của một địa phương cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số ICOR của tỉnh Hà Giang giai đoạn 2020 - 2022 biến động ra sao và phản ánh điều gì?
Chỉ số ICOR của Hà Giang đạt 14,28 (năm 2020), tăng mạnh lên 18,23 (năm 2021) và giảm xuống 11,28 (năm 2022); tính bình quân cả giai đoạn đạt 14,60. Mức ICOR này luôn cao hơn mức bình quân của cả nước (12,44 cả giai đoạn), phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh còn thấp, cần nhiều đơn vị vốn đầu tư hơn để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GRDP do tính chất đầu tư cơ sở hạ tầng miền núi tốn kém, phân tán và tiến độ giải ngân bị kéo dài.

2. Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Hà Giang trong giai đoạn này tập trung nhiều nhất vào các ngành nào?
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung chủ yếu vào 4 lĩnh vực: Giao thông vận tải (chiếm tỷ trọng cao nhất, 17,02% năm 2022); Nông, lâm nghiệp, thủy lợi và thủy sản (16,05%); Y tế (15,51%, tăng mạnh trong năm 2021 do nhu cầu phòng chống dịch); Giáo dục và đào tạo (14,38%).

3. Tỷ trọng phân bổ vốn đầu tư công giữa các đơn vị hành chính cấp huyện tại Hà Giang có sự phân hóa như thế nào?
Nguồn vốn được ưu tiên phân bổ cho các trung tâm đô thị và địa bàn có dự án trọng điểm. Trong đó, Thành phố Hà Giang luôn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 18,4% qua các năm, đạt 18,45% năm 2022). Tiếp theo là các huyện Yên Minh (trên 14,1%), Xín Mần (11,77%) và Vị Xuyên (10,85%). Các huyện còn lại như Hoàng Su Phì, Mèo Vạc, Quản Bạ chỉ chiếm từ 3% đến 5% tổng vốn đầu tư công.

4. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư công năm 2022 của tỉnh Hà Giang bao gồm những cấu phần nào?
Tổng nguồn vốn năm 2022 bao gồm vốn ngân sách trung ương đạt 2.969 tỷ đồng (trong nước 1.514 tỷ đồng và vốn ODA nước ngoài 769,455 tỷ đồng bố trí cho 7 dự án chuyển tiếp) cùng vốn cân đối ngân sách địa phương được địa phương giao là 1.170,17 tỷ đồng (chủ yếu từ nguồn thu tiền sử dụng đất 710 tỷ đồng và chi xây dựng cơ bản vốn tập trung 781,77 tỷ đồng).

5. Những nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến tình trạng đầu tư công kém hiệu quả trong giai đoạn 2020 - 2021 tại Hà Giang?
Nguyên nhân chủ yếu do xuất phát điểm kinh tế của tỉnh còn thấp, nhu cầu vốn lớn nhưng quyết định đầu tư còn dàn trải, phân tán; việc phân bổ vốn chưa bám sát tiến độ và khả năng hấp thụ thực tế; tác động bất lợi của dịch bệnh Covid-19 và biến động tăng giá vật liệu xây dựng làm nhiều công trình chậm tiến độ, phát sinh chi phí và chậm đưa vào khai thác sử dụng.

Kết luận

Báo cáo thực tập tốt nghiệp của sinh viên Bùi Minh Ngọc đã phản ánh toàn diện thực trạng sử dụng nguồn vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2020 - 2022 với hệ thống số liệu chi tiết và phương pháp đánh giá định lượng qua hệ số ICOR. Công trình làm rõ vai trò then chốt của nguồn vốn nhà nước trong việc dẫn dắt đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục và y tế tại một tỉnh miền núi biên giới còn nhiều khó khăn. Đồng thời, báo cáo đã chỉ rõ những điểm nghẽn trong công tác phân bổ dàn trải, năng lực hấp thụ vốn và quy hoạch phát triển, cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cho công tác quản trị đầu tư công cấp địa phương.