Chương 1 BẢN THỂ LUẬN VÀ CÁC TIỀN ĐỀ RA ĐỜI CỦA BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC DUY TÂM CỔ ĐIỂN ĐỨC ` 1. Khái niệm "bản thể luận" Thuật ngữ "bản thể luận" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, là sự kết hợp giữa hai từ on (όv) - "cái thực tồn", "cái đang tồn tại" và logos (λόγος) - lời lẽ, khái niệm, học thuyết, có nghĩa là "học thuyết về tồn tại tự thân nó"; là một bộ phận của triết học nghiên cứu những nguyên tắc cơ bản của tồn tại, những bản chất chung nhất và những phạm trù chung nhất về cái thực tồn. Bản thể luận đôi khi được đồng nhất với siêu hình học, nhưng thường được xem là bộ phận trung tâm của siêu hình học. Thuật ngữ "bản thể luận" xuất hiện lần đầu tiên năm 1613 trong "Từ điển thuật ngữ triết học" của R.Cốclêniút (Goclenius) và được kiện toàn trong hệ thống triết học của C.
Khái niệm "bản thể" có nguồn gốc từ chữ "ousia" của Hy Lạp và nó là khái niệm đa nghĩa: vừa có nghĩa là bản thể, tồn tại, lại vừa có nghĩa là bản chất. Kể từ Arixtốt trở đi, khái niệm bản thể gắn liền với vấn đề siêu hình học, về "cái thực tồn như là cái thực tồn", tức là gắn liền với khái niệm tồn tại. Như vậy, thuật ngữ "bản thể luận" chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhưng tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học, ngay từ thời cổ đại. Và với tư cách là bộ phận căn bản nhất của siêu hình học, bản thể luận ra đời cùng với siêu hình học và trải qua quá trình phát triển liên tục, gắn bó hữu cơ với tiến trình lịch sử triết học.
Do vậy, việc nghiên cứu lịch sử của bản thể luận, lịch sử của các quan niệm, của các 19 (LUAN.XIX TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XIX học thuyết triết học về tồn tại, là con đường khả dĩ nhất để làm sáng tỏ nội dung của khái niệm này. Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học đã có những suy tư nhằm phân biệt giữa bản thể và hiện tượng (tiếng Hy Lạp là phainomenon) trước kinh nghiệm về một thế giới đầy những mặt đối lập và mâu thuẫn. Trong khi bản thể thường được quan niệm là bản chất nội tại của sự vật, không nhận thức được một cách trực tiếp bằng các giác quan, thì hiện tượng được coi là sự phát triển (đầy mâu thuẫn và có thể tri giác được bằng kinh nghiệm) của bản thể. Hơn nữa, các nhà triết học cổ đại còn phân biệt cả "vẻ bề ngoài" hay "ánh hiện" so với bản thể: Họ coi nó là sự thể hiện trên bề mặt của bản thể và theo nghĩa đó, nó là sự thể hiện, sự bộc lộ không chân thực, ảo ảnh.
Bản thể luận được tách biệt ra từ các học thuyết về tồn tại của giới tự nhiên như là học thuyết về bản thân tồn tại ngay trong triết học Hy Lạp sơ kỳ, mặc dù bản thân thuật ngữ "bản thể luận" khi đó chưa được sử dụng. Pácmênít và các nhà triết học thuộc phái Elê tuyên bố chỉ có tư duy về tồn tại - sự thống nhất đồng loại, vĩnh cửu và bất biến - là tri thức chân thực. Họ nhấn mạnh tư duy về tồn tại không thể là tư duy sai lầm, rằng tư duy và tồn tại là đồng nhất. Những chứng minh cho bản chất nằm ngoài thời gian, nằm ngoài không gian và siêu cảm tính của tồn tại được coi là luận chứng lôgíc học đầu tiên trong lịch sử bản thể luận phương Tây.
Vấn đề tồn tại được Pácmênít đưa vào triết học nhằm giải quyết nhu cầu xã hội và của con người cổ đại đã mất niềm tin vào thần linh truyền thống và từ đó những cơ sở và chuẩn mực xã hội bị phá vỡ. Cùng với cái chết của thần linh thì nhịp độ, trật tự của quá trình tự nhiên và xã hội không còn được bảo đảm nữa [Xem 51, tr. Triết học Pácmênít xoa dịu tâm hồn khủng Từ đây: - Số đầu là số thứ tự tài liệu tham khảo - Số giữa (nếu có) là số tập của tài liệu tham khảo - Số cuối là số trang của tài liệu tham khảo.XIX TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XIX hoảng của con người thời cổ đại bằng cách mách bảo cho họ về sự thần khải của tư duy tuyệt đối luôn giữ cho thế giới không bị rơi vào tình trạng hỗn loạn, bảo đảm cho nó tính ổn định và bền vững. Tính đa dạng thường biến của thế giới được trường phái Elê xem là một hiện tượng hư ảo.
Sự khu biệt nghiêm ngặt này sau đó đã được các lý thuyết bản thể luận của những nhà triết học tiền Xôcrát làm dịu bớt, đối tượng của họ đã không còn là tồn tại "thuần tuý", mà là các bản nguyên có chất lượng xác định của tồn tại ("cội nguồn" ở Empêđốc, "sinh khí" ở Anaxago, "nguyên tử" ở Đêmôcrít). Quan niệm như vậy cho phép giải thích mối quan hệ của tồn tại với những đối tượng cụ thể, cái siêu cảm tính với trực giác cảm tính. Đồng thời cũng xuất hiện lập trường đối lập mang tính chất phê phán của phái nguỵ biện: họ bác bỏ tính tư duy được của tồn tại và gián tiếp bác bỏ bản thân tính có thể của khái niệm "tồn tại". Nổi bật lên ở đây là luận chứng của Giócgiát (Gorgias) thể hiện qua ba luận điểm: 1) không có cái gì; 2) nếu thậm chí có một cái gì đó, thì nó cũng bất khả tri và 3) nếu nó khả tri, thì cũng không thể diễn đạt bằng lời và lý giải cho người khác biết.
Đây là sự nhạo báng mang tính chất luận chiến chống lại siêu hình học của phái Elê. Để hiểu được cuộc "cách mạng bản thể luận triết học" của Xôcrát, trước hết cần lưu ý rằng, Xôcrát đã kế tục tư tưởng triết học Hy Lạp tiền nguỵ biện. Tư tưởng này thể hiện ở quan niệm về mối liên hệ của vũ trụ với con người, theo đó thì vũ trụ không tách biệt với con người. Đặc điểm cơ bản của trực giác về vũ trụ chính là mối liên hệ mật thiết của nó với tồn tại người và số phận của con người.
Chính mối liên hệ qua lại giữa tồn tại vũ trụ và tồn tại người cấu thành thực chất của vũ trụ cổ đại. Trật tự vũ trụ toàn vẹn thống nhất hình thành viễn cảnh của số phận con người, số phận này luôn là số phận trong vũ trụ. Vì vậy, với một nghĩa nào đó, số phận con người được đồng nhất với số phận vũ trụ nói chung. Nhưng, Xôcrát cũng nhận thấy rõ hạn chế của 21 (LUAN.XIX TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XIX quan niệm này là bị sa vào chủ nghĩa vũ trụ là trung tâm, tức là không nhận thấy sự đặc thù của tồn tại người.
Từ đó, ông đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng rất mạnh của triết học ngụy biện, mà cụ thể là tư tưởng về con người như trung tâm của mọi suy tưởng triết học. Trước hết, cần phải khẳng định rằng mặc dù Xôcrát không những không để lại một hệ thống bản thể luận mà còn công khai bác bỏ học thuyết về tồn tại của các nhà "triết học tự nhiên" trước ông, song triết học Xôcrát dẫu sao vẫn là một trong vòng khâu then chốt của lịch sử bản thể luận phương Tây. Khác với Pácmênít, Xôcrát coi tồn tại không phải là giới tự nhiên, chỉ có ý thức con người mới có thể trở thành đề tài của tư duy chặt chẽ, tức là luận điểm xuất phát nhất quyết về tồn tại chỉ có thể trong lĩnh vực ý thức. Cảm nhận thấy khả năng của chủ nghĩa hư vô về bản thể luận (phái nguỵ biện) chứa đựng trong lôgíc học Êlê, Xôcrát chứng minh mối liên hệ tất yếu giữa tồn tại, cái thiện và ý thức: tồn tại chân thực không thể phân chia ra thành cấu trúc lôgíc và tồn tại hiện thực của cá nhân.
Qua đó, Xôcrát khắc phục các mặt của học thuyết Pácmênít mà phái nguỵ biện đã dựa vào để xây dựng lý thuyết của mình. Điểm khác biệt giữa Pácmênít và Xôcrát là thực tại - bản thể được phát hiện ra: tồn tại tự thân nó (ở Pácmênít) và tồn tại - tự ý thức (ở Xôcrát). Xôcrát đã lý giải khái niệm "tồn tại" theo một cách mới: thực tại ("tồn tại") không còn là giới tự nhiên vô nhân cách và lý tưởng trừu tượng, mà là ý thức sống động. Thực tại trong triết học là sự thực tồn có hoạt động, bao hàm trong mình mục đích hay định hướng vào mục đích.
Có thể coi bản thể luận Xôcrát là bản thể luận kiểu mới - học thuyết về các cơ sở, các nguyên tắc của tồn tại người. Phương pháp đạt tới nó là biện chứng hiểu theo nghĩa nghệ thuật tranh luận nhằm phát hiện ra tồn tại đích thực của tự ý thức cá nhân. Vì vậy, Xixêrông (Cicero) nhận xét rằng, Xôcrát đã hạ triết học từ trên trời xuống đất.XIX TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.XIX Platôn tổng hợp bản thể luận Hy Lạp sơ kỳ trong học thuyết về "ý niệm" của mình. Theo Platôn, tồn tại là tổng thể những ý niệm - những hình thức hay những bản chất siêu cảm tính, tính đa dạng của thế giới vật chất là phản ánh của chúng.
Platôn khu biệt giữa tồn tại và sinh thành (tức là tính thường biến của thế giới cảm tính) với "bản nguyên phi bản nguyên" của tồn tại (còn được ông gọi là "cái phúc" hay "cái thiện"). Để tránh kết luận của Pácmênít coi vạn vật cảm tính chỉ là ảo tưởng trần trụi, Platôn quan niệm các sự vật cảm tính chỉ "tồn tại một nửa". Theo Platôn, chỉ các ý niệm mới là tồn tại đích thực, còn các sự vật cảm tính chỉ là các bản sao của ý niệm, có được tồn tại của mình nhờ được ý niệm "tham dự" vào. Để bảo vệ cho sự phân cấp của tồn tại, Platôn đã chống lại cái không tồn tại của Pácmênít.
Theo Platôn, ta vẫn có thể nói về cái không tồn tại: cái không tồn tại không phải là hư vô, mà là sự khác biệt. Lý do nữa để Platôn đi đến quan niệm về tồn tại có phân cấp là ông coi tồn tại tương đồng với sự hoàn hảo và với cái thiện. Đó là những giá trị phải dần dần mới đạt đến được, tức là bao hàm các thang bậc và các cấp độ ở bên trong mình.