Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Vấn đề bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX" của nghiên cứu sinh Nguyễn Chí Hiếu, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62.05), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2010 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Anh Tuấn.
Về tính cấp thiết, tác giả xác định bản thể luận giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tri thức triết học, quy định lập trường triết học, đặc trưng của từng trường phái cũng như tính đặc thù của tri thức triết học so với các ngành khoa học khác. Việc nghiên cứu lịch sử bản thể luận giúp nhận diện các nấc thang phát triển trong tiến trình khám phá và hiện thực hóa bản chất loài người thông qua các giá trị tinh thần căn bản, đồng thời nâng cao năng lực tư duy lý luận. Trong bối cảnh công cuộc hiện đại hóa đất nước đòi hỏi tiếp thu có chọn lọc các thành tựu của văn minh phương Tây – nền văn minh dựa trên quá trình thế tục hóa và hợp lý hóa đời sống – việc nghiên cứu triết học duy tâm cổ điển Đức trở nên cần thiết. Đây không chỉ là nguồn gốc lý luận trực tiếp cho sự ra đời của triết học Mác mà còn là nền tảng tư tưởng chuẩn bị cho công cuộc hiện đại hóa nước Đức và có ảnh hưởng lâu dài đến triết học phương Tây hiện đại.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tại Việt Nam, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận triết học cổ điển Đức từ góc độ nhận thức luận, phép biện chứng, lôgíc học, đạo đức học hoặc mỹ học; vấn đề bản thể luận chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống. Đồng thời, các tài liệu trong nước phần lớn tập trung vào Immanuel Kant và G.W.F. Hegel, trong khi tư tưởng của J.G. Fichte và F.W.J. Schelling ít được khảo sát. Các nghiên cứu quốc tế tuy có nhiều công trình chuyên sâu về từng đại biểu riêng lẻ nhưng thiếu vắng cái nhìn tổng thể bao quát toàn bộ tiến trình bản thể luận duy tâm cổ điển Đức.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu chuyên sâu và trình bày có hệ thống nội dung cơ bản của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức, qua đó đánh giá ý nghĩa, đóng góp và hạn chế của nó đối với sự phát triển của triết học Đức hiện đại.
Để đạt được mục đích đó, luận án xác định và giải quyết ba nhiệm vụ cụ thể:
- Trình bày khái quát sự hình thành và phát triển của tư tưởng bản thể luận trong triết học phương Tây nhằm xác định nội hàm của khái niệm "bản thể luận", đồng thời làm sáng tỏ các tiền đề kinh tế - xã hội, chính trị và lý luận cho sự ra đời của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức.
- Tập trung phân tích và làm rõ nội dung bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức qua bốn đại biểu tiêu biểu: Immanuel Kant, Johann Gottlieb Fichte, Friedrich Wilhelm Joseph Schelling và Georg Wilhelm Friedrich Hegel.
- Phân tích ảnh hưởng của bản thể luận duy tâm cổ điển Đức tới hai đại diện tiêu biểu của triết học hiện tượng học và hiện sinh Đức hiện đại là Edmund Husserl và Martin Heidegger; từ đó khái quát các đặc điểm cơ bản, đánh giá ý nghĩa cùng những đóng góp và hạn chế của bản thể luận duy tâm cổ điển Đức.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung cơ bản của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các tác phẩm chính yếu của Kant, Fichte, Schelling, Hegel; phạm vi khảo cứu tác động đến triết học hiện đại được giới hạn ở hai đại biểu Edmund Husserl và Martin Heidegger thuộc trào lưu hiện tượng học - hiện sinh Đức.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài thành ba nhóm tư liệu chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước.
- Về Kant: Tác phẩm Triết học Imanuin Cantơ (1996) của Nguyễn Văn Huyên phân tích lý luận nhận thức và các ý niệm lý tính; tập sách I.Cantơ - người sáng lập nền triết học cổ điển Đức (1997) do Viện Triết học xuất bản với bài viết của Đặng Hữu Toàn phân tích siêu hình học Kant như một học thuyết về các mối quan hệ và bản thể luận lý tính con người, cùng các bài viết của Nguyễn Đình Tường, Đỗ Minh Hợp, Ngô Quang Phục về ảnh hưởng của Kant tới triết học phương Tây hiện đại; công trình Triết học Cantơ (tái bản 2005) của Trần Thái Đỉnh phân tích ba tác phẩm Phê phán; cuốn Học thuyết phạm trù trong triết học I.Cantơ (2007) của Lê Công Sự; luận án tiến sĩ của Ngô Thị Mỹ Dung (2007) về triết học đạo đức Kant; luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Thu Lan (2004) về mệnh lệnh tuyệt đối và Khuất Duy Dũng về chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận Kant.
- Về Hegel: Các công trình của Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh Hợp gồm Quan niệm của Hêghen về bản chất của triết học (1998), Vấn đề tư duy trong triết học Hêghen (1999), Quan điểm lịch sử triết học của Hêghen (2001), Triết học pháp quyền Hêghen (2002); cuốn Triết học cổ điển Đức (2006) của Lê Công Sự.
- Về mối liên hệ với triết học hiện đại và các hội thảo chuyên đề: Cuốn sách Đâu là căn nguyên tư tưởng? hay con đường triết lý từ Cantơ đến Haiđơgơ (1970, tái bản 2007) của Lê Tôn Nghiêm cùng bài giới thiệu của Bùi Văn Nam Sơn; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Triết học cổ điển Đức - những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học (2004, xuất bản 2006) với các bài viết của Đỗ Minh Hợp về bản thể luận Husserl và Kant, Nguyễn Vũ Hảo về sự thống nhất nhận thức luận và đạo đức học trong nhân học Kant, Nguyễn Anh Tuấn về mối quan hệ "cái Tôi" và "không phải Tôi" ở Kant và Fichte; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Những vấn đề triết học phương Tây thế kỷ XX (2006, xuất bản 2007) với các bài viết của Bùi Đăng Duy, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Vũ Hảo, Lê Hải Thanh, Lê Kim Châu, Nguyễn Văn Sanh; luận án tiến sĩ của Đỗ Minh Hợp (2000) về vấn đề bản thể luận trong một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại; luận án tiến sĩ của Nguyễn Trọng Nghĩa (2008) về hiện tượng học của Husserl.
Nhóm thứ hai: Các công trình của tác giả nước ngoài được dịch ra tiếng Việt.
- Các công trình nghiên cứu lịch sử triết học của Viện Triết học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô: Triết học cổ điển Đức (1962), Lịch sử phép biện chứng, tập 3 (1998); cuốn Lôgíc học biện chứng (2003) của E.V. Ilyenkov.
- Các bản dịch nguyên tác kèm chú giải của dịch giả Bùi Văn Nam Sơn: ba tác phẩm Phê phán của Kant, Hiện tượng học tinh thần, Tiểu lôgíc học, Các nguyên lý của triết học pháp quyền của Hegel.
- Công trình Nghiên cứu triết học cơ bản (2007) của Lý Chấn Anh phân tích các thuộc tính của "tồn hữu" và so sánh với khái niệm "đạo" trong triết học Lão - Trang.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài.
- Các tài liệu nhập môn bản thể luận: Bela Weissmar (1991), Georg Picht (1996), Ewin Tegtmeier (2000), Reinhardt Grossmann (2002), Uwe Meixner (2004).
- Các công trình chuyên khảo về bản thể luận cổ điển Đức: Các tác phẩm của Martin Heidegger gồm Luận điểm của Cantơ về tồn tại (1963), Siêu hình học của chủ nghĩa duy tâm Đức (Sêlinh) (1991), Kiến giải hiện tượng học về Phê phán lý tính thuần tuý của Cantơ (1995), Chủ nghĩa duy tâm Đức (Phíchtơ, Sêlinh, Hêghen) và thực trạng vấn đề triết học hiện đại (1997), Cantơ và vấn đề siêu hình học (1998); Gottfried Martin (1969) về bản thể luận và lý thuyết khoa học của Kant; Reinhard Lauth (1974) về sự hình thành triết học đồng nhất của Schelling trong tranh luận với Fichte; Herbert Marcuse (1975) về bản thể luận Hegel và học thuyết lịch sử tính; Jakyoung Han (1988) về triết học siêu nghiệm với tư cách là bản thể luận; Georg Sans (2000) về tính chất tự nhiên trong bản thể luận Kant; Arndt và Iber (2000) về lôgíc tồn tại của Hegel; Elena Ficara (2006) về bản thể luận trong Phê phán lý tính thuần túy; Georg Lukács (1984, 1986) với bộ chuyên khảo Về bản thể luận của tồn tại xã hội.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng hợp và có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về bản thể luận trong toàn bộ giai đoạn triết học duy tâm cổ điển Đức (từ Kant, Fichte, Schelling đến Hegel), đồng thời luận giải mối liên hệ chuyển tiếp từ bản thể luận duy tâm cổ điển Đức sang hiện tượng học của Husserl và bản thể luận cơ bản của Heidegger.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trọng tâm là quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa tự nhiên, xã hội và con người, cùng nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Tác giả vận dụng quan điểm của C. Mác về bản thể luận thực tiễn – trong đó thực tiễn là tâm điểm khách quan của tồn tại người và bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội – để làm hệ quy chiếu đánh giá các hệ thống duy tâm cổ điển Đức.
Về khái niệm công cụ, luận án xác định "bản thể luận" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (on - cái thực tồn và logos - học thuyết). Luận án phân định giữa "bản thể luận cụ thể" của các khoa học chuyên ngành (nghiên cứu các dạng vật chất cụ thể) và "bản thể luận triết học" (học thuyết về tồn tại nói chung, mà hạt nhân là các nguyên tắc, nguyên lý của tồn tại người). Bản thể luận triết học được nhìn nhận như sự phản tư lý luận đối với văn hóa sinh tồn của con người ở mỗi thời đại lịch sử, mang tính chất của một hệ giá trị văn hóa nhân văn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án là phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên phân tích văn bản triết học và lịch sử tư tưởng. Các phương pháp cụ thể bao gồm:
- Phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc: Khảo sát quá trình tiến hóa của các tư tưởng bản thể luận từ cổ đại, trung cổ, phục hưng, cận đại đến triết học cổ điển Đức và triết học Đức hiện đại theo tiến trình lịch sử, đồng thời rút ra các quy luật và kết cấu lôgíc nội tại của các hệ thống triết học.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các khái niệm, phạm trù, tiền đề trong các văn bản của Kant, Fichte, Schelling, Hegel, Husserl, Heidegger, sau đó tổng hợp thành các đặc điểm chung của bản thể luận giai đoạn này.
- Phương pháp đối chiếu và so sánh: So sánh quan điểm bản thể luận giữa các tác giả (Kant với Fichte, Fichte với Schelling, Kant với Husserl, Kant với Heidegger, bản thể luận duy tâm Đức với bản thể luận Mác).
- Phương pháp khái quát hóa: Rút ra các đặc trưng bản thể luận văn hóa, những đóng góp lý luận và giới hạn lịch sử của toàn bộ trào lưu.
Nguồn tư liệu sử dụng gồm các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen; nguyên tác và các bản dịch tiếng Việt các tác phẩm của Kant, Hegel; các sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo quốc tế, bài báo trên Tạp chí Triết học, Tạp chí Nghiên cứu Con người và các luận án, luận văn chuyên ngành cùng một số tài liệu học thuật tiếng Đức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Bản thể luận và các tiền đề ra đời của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức
Chương 1 làm rõ khái niệm bản thể luận, điểm lược tiến trình lịch sử của phạm trù này và phân tích các tiền đề kinh tế - xã hội, chính trị, lý luận cho sự xuất hiện của bản thể luận duy tâm cổ điển Đức.
Về khái niệm và lịch sử tư tưởng bản thể luận: Thuật ngữ bản thể luận xuất hiện lần đầu năm 1613 trong từ điển của R. Goclenius và được hoàn thiện bởi Christian Wolff. Khái niệm bản thể (ousia) có từ thời cổ đại. Tác giả phân tích các mốc phát triển:
- Triết học cổ đại: Parmenides đồng nhất tư duy và tồn tại; Gorgias bác bỏ tính tư duy được của tồn tại; Socrates chuyển trọng tâm sang bản thể luận tự ý thức và tồn tại người; Plato xây dựng học thuyết ý niệm và phân cấp tồn tại; Aristotle định nghĩa siêu hình học là khoa học về tồn tại với tư cách tồn tại ("Triết học thứ nhất"), xác lập hệ thống phạm trù bản thể và tùy thể.
- Triết học trung cổ: Augustine xem xét bản thể luận qua mối quan hệ giữa linh hồn và Thiên Chúa, khám phá chiều sâu "cái Ngã"; Thomas Aquinas phân biệt bản chất (essentia) và hiện sinh (existentia); Duns Scotus chủ trương nhất thể hóa bản chất và thực tồn; Anselm đưa ra chứng minh bản thể luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa.
- Triết học Phục hưng: Xác lập "bản thể luận thực tiễn", tập trung giáo dục và nâng cao nhân tính (humanitas).
- Triết học cận đại: René Descartes đặt nền tảng bản thể luận nhận thức khoa học tự nhiên dựa trên ba tiêu chí khoa học (tính khách quan, tính tất yếu, tính phổ biến); Spinoza xây dựng bản thể luận nhất nguyên phiếm thần; Leibniz phát triển đơn tử luận đa nguyên; Wolff phân chia siêu hình học thành siêu hình học đại cương (bản thể luận) và siêu hình học chuyên ngành (thần học, tâm lý học, vũ trụ học).
- Bản thể luận Mác: Xác định thực tiễn là phương thức tồn tại của con người; bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội; lao động là cầu nối chuyển tiếp từ tự nhiên sang xã hội.
- Bản thể luận hiện đại: Pascal, Kierkegaard, Nikolai Hartmann (bốn lớp tồn tại: vật chất-vật lý, sinh cơ, linh hồn, tinh thần cùng tồn tại lý tưởng), Husserl, Heidegger, Sartre.
Về tiền đề kinh tế - xã hội và chính trị: Luận án phân tích bối cảnh nước Đức cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX trong mối tương quan với Tây Âu:
- Nước Anh diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp từ năm 1760 (chế tạo máy hơi nước năm 1763-1768 của James Watt; phát triển ngành dệt, đường sắt năm 1801 tại Surrey và 1830 tuyến Liverpool - Manchester), hình thành giai cấp vô sản và tư sản công nghiệp.
- Nước Pháp bùng nổ cuộc cách mạng tư sản 1789-1794 lật đổ chế độ phong kiến, đưa ra khẩu hiệu "Tự do, bình đẳng, bác ái".
- Nước Đức (trọng tâm là nhà nước Phổ) duy trì quan hệ phong kiến cát cứ, kinh tế lạc hậu. Lịch sử nước Phổ trải qua thời kỳ quân sự hóa và cải cách hành chính dưới thời Friedrich I (1701-1713), Friedrich Wilhelm I (1713-1740, "Vua chiến sĩ"), Friedrich II (1740-1786), thất bại trước quân đội Napoléon năm 1806 tại trận Jena và Auerstedt dẫn đến hiệp ước 1807, sau đó tham gia đánh bại Pháp năm 1813-1815 tại Waterloo. Do giai cấp tư sản Đức yếu thế và nhút nhát, họ không thể tiến hành cách mạng xã hội trong thực tiễn mà thực hiện cuộc "cách mạng trong tư tưởng", chuyển toàn bộ khát vọng tự do và cải tạo hiện thực vào việc xây dựng các hệ thống bản thể luận duy tâm trừu tượng, đề cao tính tích cực của chủ thể.
Về tiền đề khoa học tự nhiên và lý luận: Những phát minh khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XVIII đặt ra yêu cầu tích hợp giữa "tự nhiên hóa tinh thần" và "tinh thần hóa tự nhiên". Về mặt lý luận, chủ nghĩa duy lý của Descartes, đơn tử luận của Leibniz và bản thể luận hệ thống của Wolff đóng vai trò tiền đề trực tiếp.
| Tiền đề hình thành |
Nội dung và yếu tố tác động cụ thể |
| Kinh tế - xã hội Tây Âu |
Cách mạng công nghiệp Anh (1760); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794) xác lập các giá trị tự do, bình đẳng. |
| Bối cảnh lịch sử nước Đức |
Tình trạng cát cứ phong kiến, kinh tế lạc hậu; bộ máy nhà nước Phổ mang tính quân sự hóa; giai cấp tư sản yếu thế thực hiện cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng. |
| Tiền đề lý luận triết học |
Chủ nghĩa duy lý Descartes (tiêu chí tính khoa học); đơn tử luận Leibniz (tính năng động của đơn tử); bản thể luận Wolff (phân định siêu hình học tổng quát và chuyên biệt). |
| Tiền đề khoa học tự nhiên |
Các phát minh khoa học cuối thế kỷ XVIII thúc đẩy tư duy về sự thống nhất giữa tự nhiên và tinh thần. |
Chương 2: Bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức - Những nội dung cơ bản
Chương 2 phân tích nội dung bản thể luận qua các tác gia tiêu biểu của triết học duy tâm cổ điển Đức:
-
Triết học siêu nghiệm - nội dung bản thể luận Kant:
Kant thực hiện "cuộc cách mạng Copernic" trong triết học bằng cách chuyển trọng tâm từ đối tượng sang phương thức nhận thức của chủ thể. Đối với lĩnh vực lý tính lý thuyết, Kant thay thế bản thể luận truyền thống bằng "Phép phân tích siêu nghiệm" về các phạm trù của giác tính thuần túy. Bản thể luận của Kant vạch ra ranh giới giữa thế giới hiện tượng (phenomenon) và "vật tự nó" (noumenon), khẳng định lý tính thuần tuý bất lực trong việc nhận thức bản thể siêu cảm tính. Để giải quyết vấn đề bản thể luận thực sự, Kant chuyển sang Phê phán lý tính thực tiễn, xây dựng bản thể luận đạo đức học: con người với tư cách thực thể đạo đức, sở hữu ý chí tự do, hành động theo mệnh lệnh tuyệt đối, tự quy định bản thân xuất phát từ chính mình. Bản thể luận Kant vì vậy là bản thể luận về tính hữu hạn của con người và bản thể luận về chủ thể tự do.
-
Văn hóa tinh thần - đối tượng phản tư của bản thể luận Fichte và Schelling:
- Johann Gottlieb Fichte phát triển "Khoa học luận" (Wissenschaftslehre), khắc phục sự phân đôi vật tự nó và hiện tượng của Kant bằng nguyên lý "cái Tôi" (das Ich) tuyệt đối. Bản thể luận Fichte là bản thể luận về sự tự kiến tạo của chủ thể: cái Tôi tự đặt định chính mình, tự đối lập mình với "cái không-Tôi" (das Nicht-Ich), và thống nhất cái Tôi lý luận với cái Tôi thực tiễn thông qua hoạt động tự do.
- Friedrich Wilhelm Joseph Schelling xây dựng "Triết học tự nhiên" (Naturphilosophie) và "Triết học đồng nhất" (Identitätsphilosophie). Schelling phê phán Fichte đã xem tự nhiên chỉ là phương tiện thụ động ("không-Tôi") cho hoạt động của chủ thể. Schelling khẳng định giới tự nhiên là "tinh thần vô thức", là chủ thể - khách thể nguyên sơ đang trên đường tự ý thức. Nền tảng bản thể luận của Schelling là "cái Tuyệt đối" – sự đồng nhất tuyệt đối giữa khách thể và chủ thể, tự nhiên và tinh thần.
- Lôgíc của nhận thức khoa học về "tồn tại" - định hướng cơ bản của bản thể luận Hegel:
Hegel hoàn thiện hệ thống duy tâm khách quan bằng cách đồng nhất tư duy với tồn tại thông qua sự vận động tự thân của "Ý niệm tuyệt đối". Trong tác phẩm Khoa học lôgíc, bản thể luận truyền thống được Hegel cải tạo thành "Học thuyết về tồn tại" (nghiên cứu chất, lượng, độ) và "Học thuyết về bản chất". Hegel thiết lập sự thống nhất hữu cơ giữa bản thể luận, nhận thức luận và lôgíc học biện chứng. Tồn tại khởi đầu trong tính trừu tượng thuần túy ("vòng khâu nhỏ": Tồn tại - Hư vô - Sinh thành), tự tha hóa vào giới tự nhiên và trở về với chính mình trong lĩnh vực tinh thần (tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan, tinh thần tuyệt đối). Bản thể luận Hegel phản ánh toàn bộ tiến trình lịch sử và văn hóa nhân loại như sự tự nhận thức của Lý tính tuyệt đối.
Chương 3: Ảnh hưởng của bản thể luận duy tâm cổ điển Đức tới Huxéc và Haiđơgơ - Những đóng góp và hạn chế
Chương 3 luận giải sự chuyển giao tư tưởng từ chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức sang hiện tượng học và triết học hiện sinh Đức thế kỷ XX, đồng thời tổng kết đóng góp và giới hạn của bản thể luận duy tâm Đức:
-
Tác động tới Edmund Husserl:
Husserl kế thừa cách tiếp cận siêu nghiệm của Kant về ý thức chủ thể. Tuy nhiên, Husserl không chỉ khảo sát các công cụ nhận thức tiên nghiệm mà biến bản thân ý thức thành một thực tại bản thể đặc biệt thông qua học thuyết về tính ý hướng (Intentionalität) và các bước quy giản hiện tượng học. Husserl xây dựng bản thể luận mô tả các cấu trúc bản chất của ý thức, hướng tới việc làm sáng tỏ cội nguồn văn hóa và thế giới đời sống (Lebenswelt) của con người.
-
Tác động tới Martin Heidegger:
Heidegger chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cách Kant triển khai tính hữu hạn trong tri thức con người và cấu trúc thời gian tính trong tác phẩm Kant và vấn đề siêu hình học (1929). Trong Tồn tại và thời gian, Heidegger phê phán lịch sử siêu hình học phương Tây đã "lãng quên tồn tại" khi đồng nhất "tồn tại" (Sein) với "hiện hữu" (Seiendes). Heidegger xây dựng "bản thể luận cơ bản" (Fundamentalontologie) tập trung phân tích cấu trúc hiện sinh của con người (Dasein) thông qua các trạng thái hữu hạn, nỗi lo âu, sự sợ hãi và hướng tới cái chết, coi thời gian tính là chân trời để hiểu ý nghĩa của tồn tại.
-
Khái quát đặc điểm của bản thể luận duy tâm cổ điển Đức:
- Đưa con người và chủ thể tính vào trung tâm của học thuyết về tồn tại;
- Đồng nhất bản thể luận với nhận thức luận và lôgíc học;
- Khắc phục tính siêu hình tĩnh tại, đưa nguyên lý vận động, phát triển và lịch sử tính vào cấu trúc của tồn tại;
- Thể hiện tính chất duy tâm tư biện, phản ánh sự phản tư đối với văn hóa tinh thần của thời đại chuyển giao tư sản.
- Những đóng góp và hạn chế:
- Đóng góp: Luận chứng cho tính tích cực, năng động sáng tạo của con người; xây dựng hệ thống phạm trù và phép biện chứng về sự phát triển; đặt nền móng lý luận cho triết học Mác và khơi gợi các hướng đi mới cho hiện tượng học, triết học hiện sinh phương Tây hiện đại.
- Hạn chế: Do lập trường duy tâm và sự hạn chế của điều kiện lịch sử nước Đức, các nhà triết học cổ điển Đức đã tách rời tồn tại người khỏi thực tiễn vật chất xã hội, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, lý tính hoặc tinh thần trừu tượng, biến bản thể luận thành hệ thống tư biện khép kín.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các kết quả và đóng góp khoa học cụ thể sau:
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống đầu tiên ở Việt Nam về nội dung cơ bản của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức.
- Khảo cứu toàn diện các nấc thang phát triển của quan niệm bản thể luận qua bốn triết gia tiêu biểu (Kant, Fichte, Schelling, Hegel), chỉ ra sự kế thừa, phê phán và biến đổi cấu trúc bản thể luận qua từng hệ thống.
- Làm rõ ảnh hưởng trực tiếp của bản thể luận duy tâm Đức đối với sự hình thành hiện tượng học của Edmund Husserl và bản thể luận cơ bản của Martin Heidegger, làm sáng tỏ tính liên tục trong lịch sử tư tưởng triết học Đức.
- Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và bản thể luận thực tiễn của triết học Mác để phân tích, đánh giá khách quan các đóng góp lý luận cùng những hạn chế lịch sử của trào lưu triết học này.
Về mặt kiến nghị, tác giả đề xuất sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây và triết học Mác - Lênin tại các trường đại học và viện nghiên cứu chuyên ngành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án nêu rõ:
- Nghiên cứu sinh chưa thể tiếp cận và tham khảo trực tiếp các tài liệu chuyên khảo bằng tiếng Anh và đặc biệt là tiếng Nga liên quan đến đề tài.
- Do giới hạn khuôn khổ của luận án, tác động của bản thể luận duy tâm cổ điển Đức tới triết học Đức hiện đại mới chỉ khảo sát qua hai tác gia tiêu biểu là Edmund Husserl và Martin Heidegger, chưa bao quát toàn bộ các trường phái khác.
- Bản thể luận Mác chưa được thiết kế thành một tiết nghiên cứu riêng biệt do yêu cầu tập trung vào đối tượng chính và năng lực học thuật của tác giả tại thời điểm thực hiện.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng việc khai thác các nguồn tư liệu đa ngữ, nghiên cứu sâu hơn về tác động của bản thể luận cổ điển Đức đối với các trào lưu triết học phương Tây thế kỷ XX khác, đồng thời triển khai nghiên cứu chuyên biệt về bản thể luận thực tiễn trong triết học Mác.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp giá trị học thuật cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Triết học (chuyên ngành Lịch sử triết học, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử).
- Người nghiên cứu về lịch sử tư tưởng phương Tây quan tâm đến sự tiến hóa của phạm trù bản thể luận từ thời cổ đại đến hiện đại.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:
- Phần tổng thuật lịch sử khái niệm "bản thể luận" qua các thời kỳ (Chương 1);
- Phần phân tích chi tiết điều kiện chính trị - xã hội nước Phổ thế kỷ XVIII - đầu XIX tác động đến tư duy triết học Đức (Chương 1);
- Khung phân tích sự chuyển hóa bản thể luận từ nhận thức luận ở Kant sang "Khoa học luận" ở Fichte, "Triết học đồng nhất" ở Schelling và "Khoa học lôgíc" ở Hegel (Chương 2);
- Phân tích mối liên hệ giữa tư tưởng siêu nghiệm Kant với hiện tượng học của Husserl và bản thể luận cơ bản của Heidegger (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa khái niệm "bản thể luận triết học" như thế nào?
Luận án xác định bản thể luận là học thuyết về tồn tại nói chung, mà hạt nhân là những nguyên lý, nguyên tắc chung nhất của một dạng tồn tại đặc biệt – tồn tại người. Bản thể luận triết học là sự phản tư lý luận đối với văn hóa sinh tồn của con người ở mỗi thời đại lịch sử, đóng vai trò nền tảng của hệ thống tri thức triết học.
2. Điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị nước Phổ thế kỷ XVIII - đầu XIX đã ảnh hưởng ra sao đến tính chất duy tâm của trào lưu này?
Nước Đức thời kỳ này bị phân tán cát cứ phong kiến, kinh tế lạc hậu so với Anh và Pháp. Giai cấp tư sản Đức yếu đuối, không đủ năng lực tiến hành cách mạng xã hội trong thực tiễn như giai cấp tư sản Pháp. Do đó, các nhà tư tưởng Đức thực hiện "cuộc cách mạng trong tư tưởng", chuyển khát vọng tự do vào ý thức và tư duy trừu tượng, xây dựng các hệ thống bản thể luận duy tâm tách rời đời sống thực tiễn.
3. Bản thể luận trong triết học của Immanuel Kant được luận giải như thế nào?
Trong lĩnh vực lý thuyết, Kant thay thế bản thể luận truyền thống bằng phép phân tích siêu nghiệm về các phạm trù giác tính, khẳng định con người không thể nhận thức "vật tự nó". Tuy nhiên, Kant chuyển bản thể luận thực sự sang lĩnh vực lý tính thực tiễn (đạo đức học), nơi con người hiện hữu với tư cách chủ thể tự do, tự xác định hành vi thông qua mệnh lệnh tuyệt đối.
4. Bản thể luận duy tâm cổ điển Đức tác động đến Husserl và Heidegger ở những nội dung cốt lõi nào?
Husserl kế thừa cách tiếp cận siêu nghiệm của Kant nhưng chuyển hóa thành bản thể luận ý thức dựa trên tính ý hướng. Heidegger kế thừa tư tưởng của Kant về tính hữu hạn và thời gian tính, từ đó xây dựng bản thể luận cơ bản phân tích cấu trúc tồn tại của con người (Dasein) nhằm trả lời câu hỏi về ý nghĩa của tồn tại.
5. Vì sao luận án không trình bày bản thể luận Mác thành một tiết riêng biệt?
Tác giả nêu bốn lý do: (1) Bản thể luận Mác có hạt nhân độc lập cần nghiên cứu chuyên biệt; (2) Ảnh hưởng của triết học cổ điển Đức tới Mác chủ yếu thể hiện ở nhận thức luận và phép biện chứng được tiếp thu có phê phán; (3) Bản thể luận Mác là vấn đề phức tạp, chưa được nghiên cứu toàn diện ở thời điểm đó; (4) Khuôn khổ đề tài và giới hạn học thuật của nghiên cứu sinh tập trung chủ yếu vào hệ thống duy tâm cổ điển Đức.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Chí Hiếu đã phục dựng có hệ thống diện mạo của bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức từ Kant, Fichte, Schelling đến Hegel, làm rõ sự chuyển dịch từ bản thể luận tự nhiên sang bản thể luận gắn liền với chủ thể và văn hóa tinh thần. Công trình phân tích sâu sắc các tiền đề lịch sử - xã hội của nước Đức, đồng thời chỉ ra mối liên hệ lý luận dẫn tới hiện tượng học của Husserl và bản thể luận hiện sinh của Heidegger. Dưới nhãn quan duy vật biện chứng, luận án đã đánh giá khách quan các giá trị biện chứng, nhân văn cũng như những giới hạn duy tâm tư biện của toàn bộ trào lưu triết học này.