CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BẢN ĐỒ VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ (GIS) TRONG VIỆC THÀNH LẬP BẢN ĐỒ 1. Khái niệm về bản đồ địa lý Bản đồ có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống thực tiễn của con người. Bản đồ - mô hình thu nhỏ của bề mặt trái đất, giúp chúng ta có cái nhìn khái quát hơn về môi trường sống, dễ dàng hơn trong việc xác định phương hướng và đường đi. Bản đồ là đối tượng nghiên cứu chính của ngành khoa học Bản đồ.
Do đó đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bản đồ, ở đây xin đề cập tới một định nghĩa điển hình của bản đồ của giáo sư K. Salishev: "Bản đồ địa lý là những biểu hiện thu nhỏ bề mặt Trái đất lên trên mặt phẳng, được quy định về mặt toán học, có tính chất hình ảnh - kí hiệu và được khái quát hóa. Những biểu hiện này trình bày sự phân bố, tình trạng và các mối liên hệ của những hiện tượng tự nhiên và xã hội khác nhau, cả những biến đổi của chúng theo thời gian, đã được lựa chọn và nêu đặc trưng phù hợp với mục đích của từng bản đồ cụ thể". Đặc điểm cơ bản của bản đồ địa lý Bản đồ có ba đặc điểm cơ bản sau đây: Bản đồ được thành lập trên một cơ sở toán học nhất định.
Cơ sở toán học của bản đồ nhằm thiết lập mối quan hệ hàm số giữa tọa độ địa lý của các điểm trên bề mặt đất và tọa độ vuông góc của các điểm tương ứng đó trên mặt phẳng tức là trên tờ bản đồ. Cơ sở toán học của bản đồ gồm có: tỷ lệ bản đồ, các phép chiếu hình bản đồ, khung và bố cục bản đồ,. trong đó tỷ lệ bản đồ và phép chiếu hình bản đồ là hai yếu tố quan trọng nhất. Thiết lập cơ sở toán học của bản đồ (chủ yếu là lưới chiếu bản đồ) thực hiện theo trình tự sau: 10 Chiếu mặt đất và các đối tượng trên bề mặt đất lên mặt toán học của Trái đất.
Bề mặt toán học đầu tiên của Trái đất là mặt Geoid. Về sau, người ta thay mặt Geoid bằng mặt Ellipsoid hoặc mặt cầu tùy thuộc vào độ chính xác của bản đồ. Chuyển mặt ellipsoid hay mặt cầu lên mặt phẳng. Quá trình này làm xuất hiện những khe hở gây ra hiện tượng biến dạng và không liên tục.
Để đảm bảo tính liên tục khi chuyển từ mặt ellipsoid hay mặt cầu lên mặt phẳng người ta áp dụng các phương pháp biểu diễn bằng toán học mà thường được gọi là các phép chiếu hình bản đồ. Kết quả chúng ta nhận được là lưới chiếu bản đồ. Bản đồ sử dụng ngôn ngữ hình ảnh – hệ thống kí hiệu để thể hiện nội dung. Các yếu tố địa hình, địa vật trên bề mặt đất rất phức tạp và đa dạng.
Có địa vật hình dạng giống nhau nhưng bản chất lại khác nhau, hoặc có hình dạng khác nhau, hoặc có hình dạng khác nhau nhưng lại có bản chất giống nhau, đồng thời lại có những đối tượng, hiện tượng mà ta không nhìn thấy được. Vì vậy, để biểu diễn chúng được đúng đắn trên bản đồ ta phải sử dụng những kí hiệu đặc biệt, gọi là kí hiệu quy ước. Kí hiệu quy ước là tập hợp các hình vẽ, đồ thị, ghi chú và màu sắc dùng để biểu diễn hình dạng, kích thước, đặc tính và mối quan hệ của các đối tượng, hiện tượng trên mặt đất lên bản đồ. Kí hiệu quy ước cung cấp cho người đọc bản đồ những hiểu biết về các hiện tượng tự nhiên, kinh tế xã hội đồng thời thiết lập trên bản đồ một mô hình phản ánh thực tế khách quan của bề mặt Trái đất.
Khi dùng kí hiệu quy ước để thể hiện bản đồ có nhiều ưu điểm sau đây: Giảm bớt trọng tải bản đồ mà vẫn giữ được những chi tiết cần thiết nhất và quan trọng nhất. Biểu diễn được chiều thứ 3 của đối tượng trong không gian (độ cao, chiều sâu) Biểu diễn được đặc tính bên trong của đối tượng, hiện tượng (nhiệt độ, áp suất, độ mặn của nước biển, tính chất của đất và động thực vật,. Biểu diễn những hiện tượng mà ta không tri giác được bằng các giác quan thông thường như: trọng trường Trái đất, độ lệch từ thiên,. 11 Trong bản đồ vị trí địa điểm thi này , nhóm chúng tôi cũng chú ý sử dụng những ký hiệu tượng hình vì nó không chỉ thể hiện được vị trí của các đối tượng mà còn có thể giúp người đọc có thể liên tưởng, hình dung được đặc điểm của đối tượng đó.
Bản đồ có sự tổng quát hóa nội dung thể hiện. Trên mặt đất, tồn tại rất nhiều chi tiết tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội mà ta không thể biểu diễn tất cả chúng trên tờ bản đồ. Mặt khác, khi tỷ lệ bản đồ càng nhỏ thì mức độ thu nhỏ càng lớn. Vì vậy, những đối tượng hiện tượng được đưa lên bản đồ cần phải được chọn lọc có ý thức, cần loại bỏ những đối tượng và những khía cạnh không cần thiết, chỉ giữ lại và nêu bật những đối tượng, hiện tượng với những nét đặc trưng chủ yếu, điển hình, quan trọng nhất trên cơ sở mục đích, chủ đề, tỷ lệ bản đồ và đặc điểm lãnh thổ thể hiện.Quá trình đó gọi là quá trình "Tổng quát hóa bản đồ".
Tổng quát hóa bản đồ chỉ giữ lại và làm nổi bật những khía cạnh, những nét đặc trưng nhất của đối tượng, cho phép phân biệt được trên bản đồ những cái chủ yếu, cái thứ yếu, tìm thấy ở những đối tượng riêng lẻ những đặc tính chung, cho phép ta hiểu được những hình ảnh rõ ràng và sâu sắc của địa phương. Tổng quát hóa, trừu tượng hóa bản đồ để đem đến cho bản đồ một phẩm chất mới, làm cho những bản đồ với mục đích, chủ đề, tỷ lệ khác nhau có nội dung khác nhau. Ở bản đồ vị trí địa điểm thi, chúng tôi cũng có lược bớt một số đối tượng, chỉ lọc ra những thông tin cần thiết để thể hiện lên bản đồ nhằm nổi bật lên mục đích chính của bản đồ là cung cấp những thông tin về vấn đề đi lại, sinh hoạt… phục vụ thí sinh trong thời gian dự thi ở thành phố Hồ Chí Minh. Các thành phần của bản đồ Một bản đồ bao gồm nhiều thành phần khác nhau, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung thông tin cho nhau để tạo nên một bản đồ với nội dung hoàn chỉnh.
12 Các thành phần chính: Nội dung chính bản đồ Cơ sở toán học Các yếu tố bổ trợ Thành phần bổ sung Tất cả các thành phần của bản đồ sẽ được nhóm chú ý ,thể hiện một cách đầy đủ và hài hòa trên bản đồ vị trí các điểm thi. Vai trò của bản đồ trong việc thể hiện thông tin địa lý Thông tin địa địa lý bao gồm cả thông tin không gian và thuộc tính của đối tượng địa lý. Đa phần thông tin trong cuộc sống hằng ngày đều là thông tin địa lý. Nó không chỉ cho chúng ta biết đối tượng đó là gì, đặc điểm, tính chất của đối tượng mà còn chỉ rõ vị trí của đối tượng đó trong không gian.
Trong cuộc sống thực tế, bản đồ giúp con người có thể xác định vị trí không gian của các đối tượng, hiện tượng theo thời gian, cho phép xác định được sự thay đổi, xu hướng thay đổi của các đối tượng. Từ đó đưa ra những nhận xét, dự báo trong tương lai. Bản đồ là công cụ thể hiện thông tin địa lý rất trực quan vì phần không gian của thông tin địa lý chỉ có thể được thể hiện tốt nhất qua bản đồ. Vì vậy bản đồ đã được chú trọng nghiên cứu và phát triển, được ứng dụng phổ biến trong cuộc sống và là một phần quan trọng trong hệ thống thông tin địa lý (GIS).
Vai trò của hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong việc thành lập bản đồ. GIS là viết tắt của chữ Geographic Information System Trong đề tài này, GIS đóng vai trò trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu, cho phép cập nhật nhanh chóng, có khả năng liên kết giữa phần không gian và thuộc tính của đối tượng. Bản đồ có thể được thành lập bằng nhiều phần mềm khác, không phải chỉ có phần mềm GIS mới có thể biên tập bản đồ. Tuy nhiên, lý do nhóm chúng tôi quyết định thành lập bản đồ với sự hỗ trợ của phần mềm GIS (cụ thể là phần mềm Mapinfo) vì Mapinfo là một phần mềm chuyên dùng để xây dựng bản đồ chuyên 13 đề, cho phép chỉnh sửa dễ dàng và cập nhật nhanh chóng, có hệ thống ký hiệu, đặc biệt là ký hiệu tượng hình giúp người sử dụng có thể dễ dàng hình dung, liên tưởng đến thực tế hơn, do đó hiệu quả sử dụng của bản đồ cũng được nâng cao hơn.
Bên cạnh đó, phần mềm GIS cho phép chúng ta xuất ra trang in (Layout) sinh động hơn, có nhiều công cụ cho phép tạo trang in nhanh chóng và biên tập, sắp xếp các thành phần bản đồ sao cho hợp lý trên trang in. 14 CHƯƠNG II: THIẾT KẾ VÀ THỂ HIỆN NỘI DUNG BẢN ĐỒ (Bản đồ tạm thời) 2. Xác định các đặc điểm chính của bản đồ. Tên bản đồ: Bản đồ vị trí địa điểm thi trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.
Hồ Chí Minh. Phạm vi không gian: Do vị trí các cơ sở thi của trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn phân bố ở các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy đây cũng chính là phạm vi không gian được thể hiện trên bản đồ (bao gồm: Quận 1, Quận 3, một phần quận Bình Thạnh, quận 10, quận Phú Nhuận). Các nội dung chính thể hiện trên bản đồ.
Vị trí các địa điểm thi: Gồm có 11 địa điểm (bảng 1) Vị trí các trạm xe buýt Vị trí các nhà hàng, quán ăn, quán nước Lộ trình các tuyến xe buýt Nhà trọ Hệ thống giao thông d. Mục đích và đối tượng sử dụng. Bản đồ hướng tới mục đích hướng dẫn thí sinh tham dự kỳ thi tuyển sinh đại học của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh.
Phương thức sử dụng. Để thuận tiện cho việc tìm đường và mang theo bên người nên bản đồ thiết kế nhỏ gọn, chủ yếu là để cầm tay. Các yêu cầu chung khi xây dựng bản đồ hướng dẫn. Thể hiện nội dung bản đồ phải đầy đủ, trực quan.
Ký hiệu rõ ràng, dễ nhận biết.