CHƯƠNG I BẢN CHẤT CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN 1. Khái niệm hạch toán kế toán Để tìm hiểu bản chất của hạch toán kế toán, trước hết cần nắm được các vấn đề cơ bản của hạch toán kế toán nói chung. Hạch toán là một hệ thống Quan sát, Đo lường, Tính toán và Ghi chép các quá trình kinh tế - xã hội, nhằm quản lý và giám đốc các quá trình đó ngày càng chặt chẽ. Quan sát các quá trình và hiện tượng kinh tế là giai đoạn đầu tiên c ủa việc phản ánh và giám đốc quá trình tái sản xuất.
Qua quá trình quan sát, có thể nắm bắt được những vấn đề cơ bản về hình thức của đối tượng cần quản lí. Đo lường là việc biểu hiện các đối tượng của sản xuất (hao phí về tư liệu lao động, sức lao động, đối tượng lao động, kết quả sản xuất) bằng các thước thích hợp (thước đo hiện vật, thước đo lao động, th ước đo giá trị). Tính toán là việc sử dụng các phép tính, các phương ti ện phân tích và tổng hợp thích hợp để xác định các chỉ tiêu cần thiết, qua đó có thể rút ra những kết luận chính xác và kịp thời về quá trình sản xuất để đưa ra những quyết định điều chỉnh đúng đắn. Ghi chép là quá trình thu thập, xử lý và ghi lại tình hình, k ết qu ả c ủa các hoạt động kinh tế trong từng thời kỳ, từng địa đi ểm phát sinh theo m ột trật tự nhất định.
Dựa trên các số liệu đã được ghi chép, nhà qu ản lý ho ặc người có quan tâm có thể rút ra những đánh giá, kết luận c ần thi ết đ ối v ới từng loại công việc khác nhau. Các thước đo sử dụng trong hạch toán nói chung bao gồm: thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị. Ba loại th ước đo này đ ược 1 sử dụng kết hợp với nhau để có thể phản ánh các đối tượng của hạch toán một cách toàn diện nhất. Hạch toán kế toán là một môn khoa học phản ánh và giám đốc các mặt hoạt động kinh tế - tài chính ở tất cả các đơn vị, các tổ chức kinh tế xã hội.
Hạch toán kế toán có đối tượng cụ thể là các hoạt động kinh tế, tài chính: sự biến động về tài sản, nguồn vốn, sự chu chuyển của tiền,. Để có thể phản ánh các đối tượng này, hạch toán kế toán sử dụng cả 3 lo ại thước đo nói trên nhưng chủ yếu và bắt buộc phải sử dụng th ước đo giá trị. Hạch toán kế toán sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu đặc thù: phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán. Khái niệm kế toán - Theo nguyên lý kế toán Mỹ: “Kế toán là phương pháp cung cấp thông tin cần thiết cho quản lý có hiệu quả và để đánh giá mọi hoạt động của mọi tổ chức.
- Theo Liên đoàn kế toán quốc tế: Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp theo cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một ph ần tính ch ất tài chính và trình bày kết quả của nó. - Theo nhà nghiên cứu lý luận kinh tế Mỹ GS.TS Robert Anthoney: Kế toán là ngôn ngữ của kinh doanh. - Theo điều lệ của Tổ chức kế toán nhà nước: “ Kế toán là công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hi ện v ật và th ời gian lao động, trong đó chủ yếu dưới hình thức giá trị nh ằm ph ản ánh, ki ểm tra tình hình hiện có va sự vận động của các loại tài s ản, tình hình và k ết qu ả kinh doanh, tình hình sử dụng vốn và kinh phí trong các tổ ch ức kinh tế xã hội. 2 - Theo Luật kế toán Việt Nam 2003: Kế toán là viêc thu th ập, x ử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kin tế tài chính d ưới hình th ức giá trị hiện vật và thời gian lao động.
* Bản chất của kế toán: Kế toán là khoa học và nghệ thuật về việc thu th ập, x ử lý, ki ểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính d ưới hình th ức giá tr ị hi ện vật và thời gian lao động Có thể nhận thấy để theo dõi và đo lường kết quả hoạt động s ản xuất kinh doanh của đơn vị, cung cấp thông tin tài chính c ần thi ết cho vi ệc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin, kế toán thực hiện một quá trình gồm có 3 hoạt động: thu thập, xử lý và cung cấp thông tin. Vị trí của hạch toán kế toán trong hệ thống thông tin quản lý Hệ thống thông tin quản lý bao gồm 3 loại hạch toán cơ bản: Hạch toán nghiệp vụ, Hạch toán thống kê và Hạch toán kế toán. Tiêu Hạch toán nghiệp Hạch toán thống kê Hạch toán kế toán thức vụ phân biệt Khái Là sự quan sát, Là môn khoa học Là môn khoa học niệm phản ánh và giám nghiên cứu mặt phản ánh và giám sát trực tiếp từng lượng trong mối đốc các quá trình, nghiệp vụ kinh tế - quan hệ với mặt hoạt động kinh tế - kỹ thuật cụ thể chất của các hiện tài chính ở tất cả nhằm mục đích chỉ tượng kinh tế - xã các đơn vị. các tổ đạo kịp thời và hội trong điều kiện chức kinh tế xã thường xuyên các thời gian và địa hội.
điểm cụ thể nhằm rút ra bản chất và tính quy luật trong 3 sự phát triển của các hiện tượng đó. Đối Các nghiệp vụ kinh Các hiện tượng kinh Các hoạt động kinh tượng tế kỹ thuật cụ thể tế - xã hội số lớn tế, tài chính: sự nghiên (tiến độ thực hiện, (dân số,…) được biến động về tài cứu cung cấp, sản xuất, nghiên cứu, giám chính, nguồn vốn, tiêu thụ, tình hình đốc trong những sự chu chuyển của biến động và sử điều kiện về thời tiền, sự tuần hoàn dụng các yếu tố gian, địa điểm cụ của vốn kinh trong quá trình tái thể (không liên tục doanh… sản xuất…) và toàn diện). Phương - Sử dụng cả 3 loại - Sử dụng cả 3 loại - Sử dụng cả ba pháp thước đo, không thước đo, không loại thước đo nghiên chuyên sâu vào chuyên sâu vào nhưng chủ yếu sử cứu thước đo nào. thước đo nào.
dụng thước đo giá - Phương tiện thu - Các phương pháp trị. thập và truyền tin thu nhận, phân tích - Các phương pháp đơn giản: chứng từ và tổng hợp thông kinh tế như: ban đầu, điện tin như: Phương pháp thoại, điện báo, + Điều tra thống kê. chứng từ kế toán, truyền miệng… + Phân tổ. Phương pháp đối + Số tương đối, số ứng tài khoản, tuyệt đối, số bình Phương pháp tính quân.
giá, Phương pháp + Phương pháp chỉ tổng hợp và cân số… đối kế toán. Đặc - Là những thông - Biểu hiện bằng - Thông tin kế toán điểm tin dùng cho lãnh các số liệu cụ thể. là thông tin về sự thông tin đạo nghiệp vụ kỹ - Thuộc nhiều lĩnh tuần hoàn của tài thuật nên được vực khác nhau. sản, phản ánh một 4 quan tâm trước hết - Mang tính tổng cách toàn diện nhất là ở yêu cầu toàn hợp cao, đã qua tình hình biến động diện, do vậy hệ phân tích, xử lý.
về tài sản của thống thông tin doanh nghiệp trong nghiệp vụ thường toàn bộ quá trình không phản ánh hoạt động SXKD được một cách toàn từ khâu cung cấp, diện và rõ nét về sự sản xuất đến tiêu vật, hiện tượng, thụ. các quá trình kinh - Thông tin kế toán tế - kỹ thuật. luôn mang tính hai - Tuỳ theo yêu cầu mặt: Tài sản - cụ thể, có thể chỉ Nguồn hình thành thông tin về một tài sản, Chi phí - phần nhỏ của Kết quả,… khách thể cần thiết - Thông tin kế toán nhất cho lãnh đạo là kết quả của quá hoặc hoạt động trình có tính 2 mặt: nghiệp vụ. thông tin và kiểm tra 1.
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán Đối tượng sử dụng thông tin kế toán thường được phân loại theo quan hệ với đơn vị (về lợi ích, về khả năng ảnh hưởng tới các hoạt động của đơn vị…), theo đó, đối tượng kế toán bao gồm: - Các nhà quản lý: Là những người trực tiếp tham gia quản trị kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, ra các quyết định kinh doanh, chỉ đạo tác nghiệp trực tiếp tại đơn vị, gồm có: Hội đồng quản trị, Ch ủ doanh nghi ệp, Ban giám đốc. 5 - Những người có lợi ích liên quan: + Lợi ích trực tiếp: Các nhà đầu tư, chủ nợ,… của đơn vị. + Lợi ích gián tiếp: Cơ quan thuế, cơ quan thống kê, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tài chính, công nhân viên, các nhà phân tích tài chính,… Do có sự khác biệt về mục đích sử dụng, cách thức sử dụng, trình độ kế toán, quan hệ lợi ích… nên mỗi đối tượng trên có yêu cầu khác nhau đối với thông tin kế toán và tiếp cận hệ thống kế toán dưới những góc độ khác nhau. Các khái niệm và các nguyên tắc kế toán: 1.
Khái niệm đơn vị kế toán: - Cần có sự độc lập về mặt kế toán, tài chính giữa một đơn v ị k ế toán với chủ sở hữu của nó và với các đơn vị kế toán khác. - Đơn vị kế toán phải lập báo cáo kế toán theo quy định. Khái niệm đơn vị tiền tệ: Thước đo tiền tệ là đặc trưng cơ bản của kế toán. Tất cả các đối tượng, các quá trình hoạt động cũng như các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải phản ánh thông qua thước đo tiền tệ và cũng ch ỉ có th ước đo ti ền tệ mới cho phép xác định được những chỉ tiêu tổng hợp phục vụ cho việc so sánh, đánh giá.
Đơn vị tiền tệ sử dụng là đồng tiền của quốc gia mà đ ơn vị đang hoạt động và giả định rằng đó là đồng tiền cố định (không có những biến động lớn do lạm phát gây ra). Khái niệm kỳ kế toán: Kỳ kế toán là độ dài của một khoảng thời gian được quy định (tháng, quý, năm) mà vào thời điểm cuối kỳ, kế toán phải lập báo cáo tài chính phản ánh tình hình và kết quả hoạt động, tình hình tài sản và ngu ồn vốn của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu so sánh, tổng hợp, kiểm tra và đánh giá của các đối tượng khác nhau.