Khóa luận về cây Bách xanh (Calocedrus macrolepis) của Lê Thị Hồng Hải

Tìm hiểu về bách xanh với thành phần dinh dưỡng, công dụng chữa bệnh và các tác dụng sinh học quan trọng đối với sức khỏe con người.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

71
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Bách xanh là gì và đặc điểm thực vật

Bách xanh (Calocedrus macrolepis Kurz) là một loài cây gỗ quý hiếm thuộc họ Cupressaceae, phân bố chủ yếu ở các vùng núi cao của Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Lào và Thái Lan. Đây là một cây lâu năm thường xanh có chiều cao lên đến 30-40 mét, với thân gỗ thẳng và vỏ nâu xám. Lá bách xanh có hình lưỡi kiếm, sắp xếp tương đối, tỏa ra mùi thơm đặc trưng khi bị gãy. Loài cây này không chỉ có giá trị kinh tế lớn về gỗ xây dựng mà còn chứa nhiều thành phần hoạt tính sinh học quý giá, khiến nó trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học quan trọng trong lĩnh vực dược học và sinh hóa.

1.1. Phân bố địa lý và môi trường sống

Bách xanh được phát hiện ở các khu vực có độ cao từ 1.000-3.000 mét so với mặt biển, nơi có khí hậu mát mẻ và độ ẩm cao. Tại Việt Nam, loài cây này chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Bắc như Hà Giang, Cao Bằng và Yên Bái. Bách xanh thích mọc trên đất núi, đất giàu chất hữu cơ, nơi có nguồn nước ổn định. Điều kiện môi trường này quyết định chất lượng và hàm lượng các chất hoạt tính trong cây.

1.2. Đặc điểm hình thái và cấu trúc

Cây bách xanh có tán hình tháp, rất thích hợp cho mục đích cảnh quan và bảo vệ rừng. Thân cây thẳng, ít nhánh ở phần dưới, đường kính thân có thể đạt 1-2 mét. Lá bách xanh nhỏ, xếp chồng chéo, có mầu xanh sẫm quanh năm. Cuticle dày với nhiều tế bào chứa tinh dầu phân bố ở các rãnh lá. Cấu trúc này là nơi tích luỹ những chất hoạt tính sinh học chính của loài cây này.

II. Thành phần hóa học của bách xanh

Thành phần hoá học bách xanh vô cùng phong phú và đa dạng, bao gồm các diterpen, diterpenoid, các hợp chất phenolic, flavonoid và nhiều chất hữu cơ khác. Nghiên cứu bằng sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS)sắc ký lỏng kết hợp khối phổ (LC-MS) đã xác định được hàng chục hợp chất trong tinh dầu bách xanh. Các thành phần chính bao gồm các monoterpen như α-pinene, β-pinene, limonene và các diterpen như phyllocladene. Ngoài ra, bách xanh cũng chứa các axit béo, các ester, ketone và aldehyde tạo nên hương thơm đặc trưng. Sự kết hợp của các thành phần này là cơ sở cho những tác dụng sinh học đa dạng và hiệu quả của bách xanh.

2.1. Tinh dầu và các hợp chất dễ bay hơi

Tinh dầu bách xanh chiếm khoảng 0,5-2% khối lượng khô của lá cây. Thành phần chính là các monoterpen (30-40%), diterpen (20-30%) và các hợp chất khác. Α-pinene và β-pinene là những hợp chất chủ yếu, có vai trò quan trọng trong hoạt tính kháng khuẩnchống viêm. Các hợp chất dễ bay hơi này được tách chiết và phân tích bằng sắc ký khí để xác định hàm lượng chính xác.

2.2. Các hợp chất polyphenol và flavonoid

Ngoài tinh dầu, bách xanh còn chứa nhiều hợp chất polyphenolflavonoidtác dụng chống oxy hoá mạnh mẽ. Những chất này được tìm thấy chủ yếu trong cao chiết rượu và nước từ lá cây. Hàm lượng các hợp chất phenolic trong bách xanh cao hơn so với nhiều loài thực vật khác, điều này giải thích cho hoạt tính chống oxy hoánhuận tràng của bách xanh.

III. Tác dụng sinh học và công dụng của bách xanh

Bách xanh sở hữu nhiều tác dụng sinh học quý giá đã được chứng minh thông qua các nghiên cứu khoa học nghiêm ngặt. Các công dụng chính bao gồm hoạt tính kháng khuẩn mạnh mẽ chống lại nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh, tác dụng kháng nấm hiệu quả, tác dụng chống viêmchống oxy hoá. Ngoài ra, bách xanh còn có tác dụng ức chế enzymegây độc tế bào với các tế bào ung thư trong các nghiên cứu in vitro. Tinh dầu bách xanh được sử dụng rộng rãi trong các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, mỹ phẩm và các chế phẩm dược phẩm. Khả năng ức chế sản sinh NO (oxide nitric) của bách xanh cũng cho thấy tiềm năng trong điều trị các bệnh viêm mạn tính.

3.1. Tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm

Nghiên cứu bằng phương pháp kiểm định vi sinh vật cho thấy tinh dầu bách xanhnồng độ tối thiểu ức chế (MIC)nồng độ diệt khuẩn (MBC) thấp đối với nhiều chủng vi khuẩn như Staphylococcus aureus, Escherichia coli. Tác dụng kháng nấm cũng rất đáng kể với nồng độ diệt nấm tối thiểu (MFC) hiệu quả chống các loài Candida. Các hợp chất α-pinene và β-pinene là những tác nhân chính gây hoạt tính kháng vi sinh vật này.

3.2. Tác dụng chống oxy hoá và chống viêm

Hoạt tính chống oxy hoá của bách xanh được đánh giá qua khả năng ức chế sản sinh NO và các gốc tự do khác. Các hợp chất polyphenol trong bách xanh có khả năng ức chế enzyme tạo ra các gốc tự do, giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương oxy hoá. Tác dụng chống viêm của bách xanh liên quan đến khả năng điều chỉnh các cytokine viêmenzym viêm, làm giảm phản ứng viêm trong cơ thể.

IV. Ứng dụng lâm sàng và triển vọng nghiên cứu

Bách xanh đang được xem xét để phát triển thành các sản phẩm chứng chỉ y học với tác dụng sinh học đã được chứng minh. Các công dụng tiềm năng bao gồm điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh nấm lây nhiễm, bệnh viêm mạn tính và thậm chí hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến oxy hoá. Tinh dầu bách xanh và các chiết xuất đã được sử dụng trong các sản phẩm chức năngmỹ phẩm dược mỹ phẩm. Tuy nhiên, cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng để xác định liều lượng, tính an toàn, và hiệu quả trong điều trị lâm sàng thực tế. Việc bảo tồn loài bách xanh và phát triển bền vững cũng là một ưu tiên quan trọng để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các nghiên cứu và ứng dụng công nghiệp.

4.1. Ứng dụng hiện tại trong sản phẩm chức năng

Bách xanh đã được tích hợp vào nhiều sản phẩm chức năng, tinh dầu thơm, nước uống chức năngmỹ phẩm. Tinh dầu bách xanh được ưa chuộng trong liệu pháp thơm do tác dụng thư giãn thần kinh và chống oxy hoá. Các sản phẩm từ bách xanh đóng vai trò hỗ trợ sức khỏe, tăng cường miễn dịch và cải thiện chất lượng cuộc sống.

4.2. Hướng nghiên cứu tương lai và bảo tồn

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào thử nghiệm lâm sàng để xác định hiệu quả điều trị thực tế của bách xanh. Nghiên cứu về cơ chế tác dụng ở mức phân tử cũng cần được mở rộng. Bên cạnh đó, bảo tồn loài bách xanh thông qua trồng nhân tạoquản lý rừng bền vững là cần thiết để đảm bảo lâu dài cho sử dụng và nghiên cứu về loài cây quý giá này.

28/12/2025
Lê thị hồng hải nghiên cứu đặc điểm thực vật thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học của loài bách xanh calocedrus macrolepis kurz khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Họ Cupressaceae gồm 135 loài thuộc 30 chi [1], phân bố rộng rãi khắp thế giới ở cả hai bán cầu, chủ yếu ở lục địa Á-Âu. Trong đó, chi Calocedrus gồm 4 loài, có 3 loài phân bố chủ yếu tại khu vực Trung Quốc và Đông Nam Á, có một loài phân bố ở Hoa Kỳ và Tây Bắc Mexico [2]. Một số loài thuộc chi này đã được nghiên cứu về thành phần hoá học trong tinh dầu và cao chiết ở các dung môi khác nhau kết quả cho thấy chi Calocedrus có nhiều tác dụng như chống oxy hoá, kháng khuẩn, kháng viêm, kháng nấm. Loài Bách xanh (C.

macrolepis Kurz), còn gọi là Bách xanh núi đất hay Tô hạp bách [3], phân bố ở các tỉnh Đắk Lắk, Hà Nội, Khánh Hoà, Lâm Đồng của Việt Nam [4]. Người dân từ xưa đã hay dùng Bách xanh cho gỗ có giá trị do vân đẹp, thớ thẳng, chịu mối mọt tốt, dễ gia công. Gỗ Bách xanh được sử dụng làm đồ gỗ như bàn ghế, đồ gỗ mỹ nghệ. Ngoài ra, gỗ Bách xanh được dùng làm hương thơm [4] [3], hương liệu và tinh dầu.

Đã có một số nghiên cứu về thành phần tinh dầu Bách xanh thu ở Hà Giang [5], Pù Huống - Nghệ An [6] và Khánh Hoà [7] trong khi các thành phần khác cũng như hoạt tính sinh học chưa được nghiên cứu nhiều. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học của loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis Kurz)” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm vi phẫu và đặc điểm bột các bộ phận của loài Bách xanh. Phân tích và so sánh thành phần hóa học của tinh dầu và cao chi các bộ phận của Bách xanh bằng phương pháp sắc ký khí kết hợp khối phổ (GC-MS) và sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC).

Nghiên cứu so sánh và xác định thành phần hoá học của cao chiết ethanol 80% các bộ phận của Bách xanh bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC). Đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật và kháng viêm in vitro của tinh dầu ba bộ phận của Bách xanh. Đặc điểm thực vật và phân bố của loài Calocedrus macrolepis Kurz 1. Vị trí phân bố loài Calocedrus macrolepis Kurz Loài Bách xanh có tên khoa học: Calocedrus macrolepis Kurz, là 1 trong 4 loài thuộc chi Calocedrus.

Theo hệ thống phân loại thực vật KEW [8], vị trí phân loại của chi Calocedrus được sắp xếp: Giới: Thực vật Plantae Ngành: Streptophyta Lớp: Pinidae Bộ: Thông (Pinales) Họ: Hoàng đàn (Cupressaceae) Chi: Bách xanh (Calocedrus) Tên đồng nghĩa Heyderia macrolepis (Kurz) H. 3: 426 (1880) Thuja macrolepis (Kurz) Voss in Mitt. 16: 88 (1907) Calocedrus macrolepis var. macrolepis Tên khác: Bách xanh núi đất [4], Tô hạp bách [3] Trong thực vật chí Trung Quốc [9], Calocedrus macrolepis var.

formosana (Florin) WCCheng & LKFu được coi là một thứ của loài Calocedrus macrolepis Kurz. Tuy nhiên, hiện nay, các hệ thống phân loại khác coi đây là một loài riêng với tên khoa học là Calocedrus formosana (Florin) Florin, là loài đặc hữu ở Đài Loan [1]. Đặc điểm thực vật loài Calocedrus macrolepis Kurz Theo sách đỏ Việt Nam (2024) [4], Cây cỏ Việt Nam [3] và Thực vật chí Trung Quốc [9] cùng một số tài liệu khác mô tả đặc điểm của loài Bách xanh - Calocedrus macrolepis Kurz như sau: Cây gỗ thường xanh, đơn tính cùng gốc, thân thẳng, cao 20-35m, đường kính thân 60-80 cm, phân cành ngang, tán lá hình tháp rộng hoặc hình dù. Vỏ dày, màu nâu đen hoặc nâu xám hoặc nâu đỏ, nứt dọc khi già, nhẵn khi còn non.

Gỗ màu vàng nhạt, thường có mùi thơm. Cành non dẹt, mọc theo mặt phẳng, hướng lên, có đốt rõ. Lá mọc chéo chữ thập, thành vòng 4, dạng vảy, đỉnh nhọn đến nhọn tù, đáy kéo dài, có hai dạng khác nhau trên cành: cặp lá phía trước (lá mặt) dẹt, hình thuôn hoặc gần tam giác ngược, dài (1,5)2-8 mm, rộng (1,5)2-4 mm; cặp lá bên (lá lưng) xếp nếp như hình thuyền, nhọn cong vào, 2 dài (1,5)2-8 mm, rộng (0,3)0,5-1 mm, thường có dải khí khổng màu trắng-xanh nổi bật ở mặt dưới.macrolepis Kurz Hình 1. Mẫu tiêu bản C.macrolepis Kurz tại Vườn Quốc gia Ba Vì [10] lưu trữ tại KEW [8] Nón đơn tính cùng gốc.

Nón đực gần hình trụ vuông mọc ở đầu cành nhỏ, mang 14-20 vảy bao phấn, mỗi vảy có 4 túi phấn (đôi khi 3 hoặc 5). Nón cái gần hình trụ vuông, mọc trên các cành tận cùng. Nón hạt trưởng thành trứng thuôn, dàu 1-2cm, 6 vảy gỗ dẹt, xếp sát nhau, 2 vảy dưới rất ngắn, 4 vảy trên dài hơn kích thước gần bằng nhau với mấu nhọn ở đỉnh. Hạt 1 trong các vảy hữu thụ, hình trứng với 2 cách không bằng nhau.

Nón phấn màu vàng, hình trứng hoặc thuôn dài, 4-8 × 2-3 mm; mỗi vi bào tử có (3 hoặc)4(hoặc 5) túi phấn. Nón hạt màu nâu đỏ khi chín, 10-20 × 4-6 mm; vảy nón dẹt, gỗ, vảy màu mỡ 2 hạt, cặp gốc nhỏ, ca. 3 mm, cong ngược, cặp đỉnh hợp sinh. Hạt hình trứng bán phần hoặc hình elip, hơi dẹt, 5-6 mm.

Cành mang nón hạt thường cong, hình tròn hoặc có 4 góc, dài 3–5 mm, mang 16– 20 vảy xếp lớp, nhọn ở đỉnh. Nón hạt mọc ở đầu cành, đơn độc, có cuống rõ ràng, rũ xuống hoặc hơi rũ, hình trụ hoặc trụ dài, dài 7–12 mm, rộng 3,5–5 mm, mở khi chín trong năm đầu tiên, có 6 vảy mọc chéo; vảy nón hạt cong ngược lại, hơi cứng, trơn hoặc nhăn nhẹ, thường có ánh sáp trắng, dài 5–10 mm, rộng 2,5–4,5 mm; vảy có đỉnh cong ngược, chóp nhọn, có mũi nhỏ rõ ràng. Hai vảy đầu trên nón không sinh sản, dính liền nhau. 3 Hạt hình bầu dục thon, đỉnh nhọn, hơi dẹp, có hai cánh không đều ở gần đầu, dài 7–12 mm.

Thụ phấn từ tháng 11 đến tháng 1, nón xuất hiện tháng 3-4, chín vào tháng 9-10. Tái sinh tự nhiên các tuổi khác nhau từ hạt tốt. Bách xanh cho gỗ có giá trị do vân đẹp, thớ thẳng, chịu mối mọt tốt, dễ gia công. Gỗ được sử dụng làm đồ gỗ như bàn ghế, đồ gỗ mỹ nghệ.

Ngoài ra, gỗ Bách xanh được dùng làm hương thơm [3] [4], hương liệu và ctinh dầu. Cây non đẹp và thích hợp trồng làm cảnh ở các vùng núi [11] [4]. Phân bố loài Calocedrus macrolepis Kurz Tại Việt Nam, loài Calocedrus macrolepis được ghi nhận tại các tỉnh: Đắk Lắk (Krông Bông, Hoà Sơn), Hà Nội (Ba Vì), Khánh Hoà (Khánh Vĩnh), Lâm Đồng (Đà Lạt) [4]. macrolepis mọc trong rừng nguyên sinh, sinh cảnh sống.

Mọc thành từng đám nhỏ trong các rừng nguyên sinh rậm thường xanh hỗn giao nhiệt đới gió mùa núi thấp ở độ cao 800 - 1500m. Cây con ưa sáng và chủ yếu gặp ở những khoảng rừng trống. Cây con bị che bóng thường chết sau 5 năm. Ở nước ngoài vùng phân bố của loài này được chia như sau: Calocedrus macrolepis phân bố rộng ở phía nam Trung Quốc (các tỉnh Quảng Đông, Hải Nam [8] , Quảng Tây, Quý Châu, đông nam Vân Nam), đông bắc Myanmar, Thái Lan [12], Lào và miền nam Việt Nam [13] [1].

Tuy nhiên, trong toàn bộ khu vực phân bố, loài này được xem là rất hiếm. Các quần thể tự nhiên thường rời rạc và có tính di tích, thường ở ngưỡng tuyệt chủng trong sinh cảnh bản địa của chúng. Phân bố của loài Calocedrus macrolepis Kurz a.Trên thế giới [8] b. Nghiên cứu về hiển vi Hiện nay, loài Calocedrus macrolepis, đã được được nghiên cứu về đặc điểm vi phẫu của bộ phận lá [14] với mô tả như sau: Hình 1.

Ảnh vi phẫu lá loài Calocedrus macrolepis Kurz [14] Bên dưới lớp biểu bì, một lớp hạ bì rõ rệt được hình thành, bao gồm một lớp tế bào có vách dày rõ rệt (Hình 1. Mô mềm lá được phân hóa thành mô giậu và mô khuyết. Mô giậu nằm ở tất cả các bề mặt tiếp xúc với ánh sáng, trong khi mô khuyết phân bố ở các bề mặt khuất sáng (Hình1. Cả hai loại lá đều được cung cấp bởi một bó mạch đơn, không phân nhánh, thuộc loại bó mạch chồng, kết thúc ngay phía dưới đầu lá.

Không có bao bó mạch. Một mô dẫn truyền rõ rệt bao quanh bó mạch (Hình 5 1. Mỗi lá có một ống tinh dầu riêng biệt. Các ống tinh dầu này có thể nằm ở các vị trí khác nhau, do đó, trong các lát cắt ngang, không phải tất cả đều được nhìn thấy ở cùng một mặt cắt.

Các ống tinh dầu luôn nằm phía dưới, nhưng cách một khoảng so với dải bó mạch (Hình 1. Các tế bào tiết cấu tạo bởi các tế bào mô mềm có vách mỏng (Hình 1. Ngoài ra, bộ phận cành non và cành bên chưa có nghiên cứu hiển vi về đặc điểm vi phẫu và cả 3 bộ phận là lá, cành non, cành bên và thân cành đều có nghiên cứu hiển vi về đặc điểm bột. Tổng quan các nghiên cứu về thành phần hoá học chi Calocedrus 1.

Thành phần hoá học tinh dầu Đã có một số nghiên cứu về tinh dầu chi Calocedrus ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi địa điểm thu hái và bộ phận khác nhau cho ra kết quả khác nhau. Tinh dầu lá các loài thuộc chi Calocedrus Robert P. Adams và các cộng sự (2006) [15] đã báo cáo về thành phần hoá học của tinh dầu từ lá của 3 loài thuộc chi Calocedrus gồm C.marcolepis Kurz thu hái tại Vân Nam, C.formosana thu hoạch tại Đài Loan và C.decurrens được thu hoạch từ 2 địa điểm của Oregon và 1 địa điểm ở Nam California.

Nghiên cứu cho thấy tinh dầu lá của 2 loài C.marcolepis Kurz và C.formosana tương đối giống nhau, tinh dầu của lá C. decurrens có phần khác biệt hơn. Tinh dầu lá các loài trong chi Calocedrus Hàm lượng (%) S Hợp chất RI STT C.formosana 1 α-Pinen 939 8,7 - 15,8 67,1 57,2 2 1-Octen-3-ol 950 - 2,5 0,5 3 β-Pinen 980 0,8 - 1,3 2,5 2,8 4 Myrcen 991 6,2 - 8,2 11,2 6,2 5 δ-3-Caren 1011 15,2 - 20,2 - - 6 Limonen 1031 18,2 - 23,6 - - 7 Terpinolen 1088 5,7 - 8,0 0,6 1,0 8 94, 79, 150, 180 (M+) 1205 2,8 - 3,8 - - 9 α-Fenchyl acetat 1220 3,5 - 9,7 - - 10 Methyl myrtenate 1295 1,5 - 4,3 - 0,1 11 α-Terpinyl acetat 1350 0,2 - 3,6 - - 12 β-Carophyllen 1418 0,1 - 0,2 3,7 3,7 13 Acid hexadecanoic 1960 - 2,2 - 6 Tinh dầu lá C.formosana được nghiên cứu rất nhiều với các mẫu thu hái tại Đài Loan từ 2006 đến 2023 [16] [17] [18] [19]. Có thể thấy ở tất cả các nghiên cứu luôn xuất hiện α-pinen, limonen và β-caryophyllen.

Những chất này luôn chiếm tỷ lệ cao khoảng 11,19% - 52,14% với α-pinene; khoảng 16,38% - 54,29% với limonen và 6,29% - 17,64% với β-caryophyllen.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ