Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Australia - vai trò đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)" của tác giả Nguyễn Minh Giang (ngành Australia học, Khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2020 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Hoàng Văn Việt) tiếp cận lịch sử ngoại giao và quan hệ quốc tế của Khối thịnh vượng chung Australia dưới lăng kính cấu trúc liên minh thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ rõ đặc thù địa chính trị của Australia: diện tích tự nhiên rộng lớn đạt 7.682.300 km² với đường bờ biển dài 36.735 km, song quy mô dân số chỉ vào khoảng 24 triệu người (thời điểm 2019), trong đó có tới 2/3 cư dân tập trung tại vùng duyên hải phía Đông. Với mật độ dân số thưa thớt đứng thứ tư trên thế giới, tâm lý an ninh của Australia kể từ thời kỳ lập quốc năm 1901 luôn bị chi phối sâu sắc bởi nỗi lo sợ bị cô lập và xâm lăng từ các thế lực phương Bắc (đặc biệt là mối e ngại về làn sóng di dân Trung Quốc và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản). Trước năm 1942, Vương quốc Anh đóng vai trò là "chiếc ô bảo hộ" an ninh truyền thống của lục địa này. Tuy nhiên, khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, thành phố Darwin bị quân đội Nhật tấn công trực tiếp, sự bảo trợ từ Hải quân Hoàng gia Anh đã không còn khả năng bao bọc Australia. Thực tế lịch sử này, kết hợp với xu hướng Anh chuẩn bị rút dần ảnh hưởng quân sự khỏi khu vực bờ Đông kênh đào Suez, đã buộc các nhà hoạch định chính sách tại Canberra phải tìm kiếm một "người bảo trợ" an ninh mới.

Hoa Kỳ, với tư cách là siêu cường tư bản chủ nghĩa đứng đầu thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã trở thành lựa chọn chiến lược duy nhất. Thông qua việc ký kết Hiệp ước An ninh Australia - New Zealand - Hoa Kỳ (ANZUS) năm 1951 và Hiệp ước Manila thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) năm 1954, quan hệ liên minh chiến lược giữa Australia và Hoa Kỳ chính thức được xác lập, trở thành hòn đá tảng trong đường lối đối ngoại của Australia. Việc Australia đưa lực lượng viễn chinh tham chiến trực tiếp tại miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1965-1973) là biểu hiện cao nhất của sự gắn kết nghĩa vụ đồng minh nhằm đổi lấy cam kết bảo trợ an ninh của Hoa Kỳ.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Phân tích nền tảng của quan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ thông qua việc làm rõ các lợi ích quốc gia chiến lược cốt lõi mà hai nước cùng theo đuổi trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh và Chiến tranh Việt Nam.
  2. Làm rõ các phương diện hợp tác cụ thể trong quan hệ đồng minh song phương (chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa - giáo dục - khoa học kỹ thuật) và xu hướng vận động của mối quan hệ này trong giai đoạn 1954-1975.
  3. Phân tích vai trò thực tế của Australia trong cuộc Chiến tranh Việt Nam (đặc biệt là giai đoạn tham chiến trực tiếp 1965-1973), từ đó cung cấp dẫn chứng thực tiễn đóng góp vào hệ thống lý thuyết về liên minh trong quan hệ quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng gồm hai phần việc:

  1. So sánh, phân tích, tổng hợp hệ thống tư liệu lịch sử liên quan đến các toan tính lợi ích quốc gia của cả Australia và Hoa Kỳ, qua đó luận giải nguồn gốc hình thành và duy trì liên minh chiến lược.
  2. Tiến hành đánh giá, nhận xét, khái quát hóa và đưa ra các kết luận khoa học về bản chất, mức độ hợp tác của Australia với Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế, và văn hóa - giáo dục.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Australia trong quan hệ đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ, tập trung sâu vào ba trụ cột chính là chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng và kinh tế (bên cạnh các hoạt động văn hóa - giáo dục và khoa học kỹ thuật).
  • Phạm vi không gian: Không gian địa lý Liên bang Australia và địa bàn tác chiến của quân đội Australia tại miền Nam Việt Nam (trọng tâm là khu vực Núi Đất, Long Tân, Bình Ba thuộc tỉnh Phước Tuy - nay là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - cùng đô thành Sài Gòn).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn toàn cục của cuộc Chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, trong đó giai đoạn Australia đưa lực lượng quân sự sang tham chiến trực tiếp (1965-1973) là trọng tâm phân tích.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận điểm dựa trên sự kết hợp giữa lý luận quan hệ quốc tế và lý luận về chủ nghĩa thực dân kiểu mới:

  • Khung lý thuyết liên minh và đồng minh chiến lược: Tác giả vận dụng quan điểm của trường phái Chủ nghĩa hiện thực (Realism), tiêu biểu là luận điểm của Kenneth Waltz trong tác phẩm The Origins of Alliances về việc các quốc gia vừa và nhỏ liên kết với cường quốc chủ yếu nhằm đối phó với mối đe dọa an ninh địa lý hơn là chỉ đối phó với sức mạnh thuần túy; quan điểm của Hans Morgenthau về quyền lực và lợi ích quốc gia; luận điểm của Samuel Huntington về việc sử dụng quyền lực tạo dựng môi trường sinh tồn an ninh; cùng các nghiên cứu của Thomas Risse-Kappen (Cooperation Among Democracies) về sự chia sẻ giá trị thể chế giữa các nền dân chủ tư sản. Tác giả cũng phân định rõ khái niệm "đồng minh", "đồng minh chiến lược", và vị thế của các nước đồng minh chủ chốt không thuộc khối NATO (Major Non-NATO Ally - MNNA) như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines.
  • Lý luận về chủ nghĩa thực dân mới: Tác giả dẫn chiếu các nghiên cứu của V. Sê-ti-nin, TS. Trần Nhu, Đào Minh Hồng, Vũ Quý Tùng Anh để khẳng định bản chất cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới. Khái niệm này được nhận diện qua việc đế quốc sử dụng bộ máy tay sai bản xứ, viện trợ kinh tế gắn điều kiện ràng buộc, cung cấp cố vấn quân sự và vũ khí, xuất khẩu tư bản độc quyền nhằm biến miền Nam Việt Nam thành tiền đồn chống chủ nghĩa xã hội.
  • Khái niệm chiến tranh: Vận dụng định nghĩa từ Sổ tay thuật ngữ quan hệ quốc tế (Đào Minh Hồng), xem chiến tranh là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các đơn vị chính trị đối kháng, làm tổn thất tối thiểu 1.000 sinh mạng chiến đấu và có tác động làm biến đổi tương quan quyền lực.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử - logic: Dựng lại tiến trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ và Australia qua các mốc lịch sử, tương ứng với các đời Tổng thống Hoa Kỳ (Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon) và các đời Thủ tướng Australia (đặc biệt là Robert Menzies và Harold Holt).
  • Phương pháp chính trị học: Khảo sát tương quan quyền lực, cấu trúc thể chế dân chủ nghị viện tư sản của Australia và phương thức các nhóm lợi ích đại tư sản chi phối quyết sách an ninh.
  • Phương pháp quan hệ quốc tế: Phân tích hành vi tập hợp lực lượng quốc tế của các quốc gia trong cấu trúc trật tự hai cực Yalta.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đánh giá sự tương đồng và dị biệt về mục tiêu chiến lược giữa Washington và Canberra qua từng giai đoạn cụ thể (1954-1962, 1962-1965, 1965-1973, 1973-1975).
  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp dữ liệu địa lý tự nhiên, nhân văn, kinh tế thương mại và tư liệu lịch sử quân sự.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm sách trắng quốc phòng, sách trắng ngoại giao của Australia và Hoa Kỳ; các văn kiện chỉ thị của Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSC 48/1, NSC 64); bài phát biểu của các nguyên thủ hai nước; hệ thống sách chuyên khảo của các học giả trong nước (Vũ Tuyết Loan, Nguyễn Văn Tài, Gareth Evans do Nguyễn Bảo Thanh Nghị dịch, Đỗ Thị Hạnh, Nguyễn Văn Dân, Vũ Quý Tùng Anh, Huỳnh Tâm Sáng, Đoàn Thanh Thảo...) và các công trình quốc tế (Greta Beale, Adam Scanlon, Andrew Mathew Kelly, Andrea Benvenuti, Trương Tiểu Minh); các kỷ yếu khoa học quân sự về Đội huấn luyện AATTV và Trung đoàn Hoàng gia Australia (RAR).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 thiết lập khung khái niệm và bối cảnh lý luận nền tảng cho việc mổ xẻ mối quan hệ đồng minh chiến lược giữa Australia và Hoa Kỳ, đồng thời phân tích bản chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Tác giả định nghĩa đồng minh là sự cam kết chính thức giữa các quốc gia có chủ quyền nhằm phối hợp tương trợ lẫn nhau xử lý các thách thức an ninh chung, trong đó liên minh chính trị - quân sự là hạt nhân chi phối mọi mối quan hệ kinh tế hay văn hóa phụ trợ. Đồng minh chiến lược là cấp độ liên kết đặc biệt sâu rộng, gắn liền với lợi ích mang tính sống còn và định hình không gian sinh tồn của các chủ thể. Trong cấu trúc quan hệ quốc tế của Mỹ, các nước đồng minh ngoài khối NATO (MNNA) như Australia gánh vác trách nhiệm hậu phương và phối thuộc quân sự toàn cầu.

Ở phần thực tiễn, chương này chứng minh bản chất cuộc chiến mà Mỹ tiến hành tại miền Nam Việt Nam là một hình thức chiến tranh điển hình của chủ nghĩa thực dân mới. Mỹ đã lợi dụng cục diện hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, từng bước gạt bỏ thực dân cũ Pháp sau thất bại tại Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève 1954 để dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và quân đội Việt Nam Cộng hòa. Tác giả dẫn số liệu cụ thể phản ánh quy mô đẫm máu của cuộc chiến đối với quân đội Hoa Kỳ: số quân nhân nhập ngũ theo chế độ nghĩa vụ chiếm gần 50% số tử vong của Mỹ tại chiến trường; gần 5% lính thủy đánh bộ Mỹ thương vong; 95% số trường hợp lính Mỹ tử trận ở Đông Nam Á diễn ra ngay trên chiến trường miền Nam Việt Nam (miền Bắc chiếm 2%, các khu vực khác ở Đông Nam Á chiếm 3%); đồng thời 86% số sĩ quan Mỹ thiệt mạng là người da trắng (Caucasus). Về mặt kinh tế thực dân mới, năm 1969 ghi nhận 77% tổng số viện trợ của Mỹ cho các nước đang phát triển thuộc khu vực Á - Phi - Mỹ Latinh chỉ tập trung vào 8 nước đồng minh then chốt, và có tới hơn 80% giá trị các khoản viện trợ này thực chất là việc xuất khẩu hàng hóa dư thừa của các tập đoàn tư bản độc quyền nhà nước Hoa Kỳ.

Chương 2: Các nhân tố dẫn đến sự hình thành quan hệ đồng minh Australia - Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam

Chương 2 luận giải các động lực nội tại và môi trường quốc tế thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ giữa Canberra và Washington sau năm 1945.

Về nhân tố bên ngoài:

  • Sự bùng nổ của làn sóng chống chủ nghĩa xã hội: Bắt nguồn từ bức điện tín dài ngày 22/02/1946 của George Kennan dẫn tới Học thuyết Ngăn chặn (Containment) và Tuyên bố của Tổng thống Harry Truman ngày 12/03/1947, Hoa Kỳ xác lập chủ trương can thiệp toàn cầu, coi Đông Nam Á là tuyến phòng thủ then chốt.
  • Sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (01/10/1949): Sau thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc và việc ký kết Hiệp ước Hữu nghị, Đồng minh và Tương trợ Xô - Trung ngày 14/02/1950 (kèm khoản tín dụng 300 triệu USD), Washington ban hành Văn kiện Hội đồng An ninh Quốc gia NSC 48/1 (23/12/1949) và NSC 64 (tháng 12/1950), chính thức định hình Học thuyết Domino và coi Đông Dương là địa bàn sinh tử ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống phía Nam.
  • Sự trỗi dậy của phong trào giải phóng dân tộc: Tiêu biểu là cuộc kháng chiến giành độc lập của nhân dân Indonesia đánh bại nỗ lực tái chiếm của thực dân Hà Lan (qua các sự kiện ký Hiệp ước Linggadjati và hòa đàm sau đó), cùng cao trào độc lập với dấu mốc "Năm Châu Phi" (1960).

Về nhân tố bên trong:

  • Australia mang bản chất của một nhà nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao, chịu sự chi phối mạnh mẽ của tầng lớp đại tư sản công nghiệp, tài chính và các tập đoàn tư bản khai khoáng khổng lồ. Nền tảng tư tưởng dân chủ tự do phương Tây khiến giới cầm quyền Canberra mang định kiến chống cộng quyết liệt.
  • Lợi ích quốc gia của Australia thể hiện qua ba trục: (1) An ninh biên giới phía Bắc và bảo toàn chủ quyền lãnh thổ; (2) Duy trì an ninh trên các tuyến hàng hải huyết mạch qua Đông Nam Á (nhất là eo biển Malacca) để giao thương với Tây Âu và Bắc Mỹ; (3) Tìm kiếm một cường quốc bảo trợ có đủ sức mạnh hải quân thay thế vị trí của Anh.

Chính sách của Thủ tướng Robert Menzies khẳng định Australia là một nhân tố chủ động tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sự lo sợ mối đe dọa từ Trung Quốc ("mối đe dọa mang tên Cộng sản phương Bắc") đã đẩy Australia ký kết Hiệp ước ANZUS (1951) và tham gia khối SEATO, sẵn sàng đóng vai trò tiền đồn của phương Tây trong Chiến tranh Việt Nam.

Chương 3: Quan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)

Chương 3 tái hiện toàn diện các phương diện hợp tác liên minh trên thực địa:

  • Lĩnh vực chính trị - ngoại giao: Hai nước duy trì sự đồng thuận tuyệt đối trong việc ủng hộ tính hợp hiến của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, phủ nhận kết quả của Hiệp định Genève. Mối liên kết ngoại giao đạt đỉnh cao dưới thời kỳ Thủ tướng Australia Harold Holt và Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson với tuyên bố "All the way with LBJ", đánh dấu bằng chuyến công du chính thức của Tổng thống Johnson tới Australia vào năm 1966.
  • Lĩnh vực an ninh - quốc phòng: Australia cử Đội Huấn luyện Quân sự tại Việt Nam (AATTV) sang hoạt động từ tháng 10/1962. Giai đoạn 1965-1973, quân đội chiến đấu Australia chính thức tham chiến với các đơn vị bộ binh thuộc Trung đoàn Hoàng gia Australia (RAR), Không quân Hoàng gia (RAAF) thiết lập tổng hành dinh và căn cứ quân sự độc lập tại tỉnh Phước Tuy (đặc biệt là các trận đánh lớn tại Núi Đất, Long Tân, Bình Ba). Australia cũng cho phép Hoa Kỳ xây dựng hàng loạt căn cứ quân sự và trạm tình báo thông tin liên hiệp chiến lược trên lãnh thổ lục địa Australia.
  • Lĩnh vực kinh tế - thương mại: Australia tăng cường trao đổi thương mại song phương với Mỹ, kết nối mạng lưới buôn bán với các nước Đông Á đang phát triển (khối EAS gồm ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông) giai đoạn 1951-1972; trực tiếp cung cấp nhu yếu phẩm, vật liệu hậu cần phục vụ cỗ máy chiến tranh của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.
  • Lĩnh vực văn hóa - giáo dục - khoa học kỹ thuật: Australia triển khai Hiệp ước hợp tác văn hóa - giáo dục Fulbright và tận dụng triệt để Kế hoạch Colombo (chương trình đưa lưu học sinh từ miền Nam Việt Nam và các nước Đông Nam Á sang Australia đào tạo giai đoạn 1951-1979) nhằm truyền bá các giá trị phương Tây, tạo dựng đội ngũ trí thức bản xứ thân phương Tây phục vụ mục tiêu chính trị dài hạn.

Bảng tổng hợp các phương diện hợp tác chiến lược giữa Australia và Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam:

Lĩnh vực Nội dung và cơ chế triển khai tiêu biểu Dữ kiện / Địa bàn / Chương trình cụ thể
Chính trị - Ngoại giao Khối liên minh ANZUS (1951), tổ chức SEATO (1954); chính sách ủng hộ tuyệt đối sự can thiệp của Mỹ. Khẩu hiệu "All the way with LBJ"; chuyến thăm của Tổng thống Johnson đến Australia (1966).
Quân sự - Quốc phòng Phối hợp tác chiến viễn chinh; thiết lập căn cứ quân sự liên hiệp; triển khai lực lượng cố vấn và bộ binh. Đội AATTV (từ 10/1962); lực lượng RAR, RAAF tham chiến tại Núi Đất, Long Tân, Bình Ba (Phước Tuy) (1965-1973).
Kinh tế - Thương mại Hậu cần quân sự; mở rộng mạng lưới xuất nhập khẩu với các nước Đông Á (EAS); các gói viện trợ gắn kết. Tiếp ứng hậu cần chiến tranh; cung cấp nguồn lực theo chuỗi kinh tế của khối tư bản thời kỳ 1951-1972.
Văn hóa - Giáo dục Ngoại giao văn hóa, chuyển giao kỹ thuật và đào tạo nhân lực nhằm tạo chỗ đứng mềm cho khối tư bản. Chương trình học bổng Fulbright; Kế hoạch Colombo (giai đoạn 1951-1979); viện trợ giáo dục ODA (1945-1975).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận làm sáng tỏ các kết quả nghiên cứu khoa học cơ bản:

  1. Chứng minh việc Australia tham gia vào cuộc Chiến tranh Việt Nam là hệ quả trực tiếp của toan tính lợi ích quốc gia mang tính thực dụng cao. Canberra chấp nhận đánh đổi việc đưa thanh niên đi lính nghĩa vụ và hứng chịu tổn thất nhân mạng (số lượng thương vong của quân nhân và cố vấn Australia trong cuộc chiến này tương đương với tổng thương vong mà Australia từng gánh chịu trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới khi sát cánh cùng Anh) để đổi lấy một cam kết ràng buộc vững chắc rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp bảo vệ biên giới phía Bắc của Australia trước mọi nguy cơ bành trướng từ châu Á.
  2. Hệ thống hóa toàn diện các dữ liệu lịch sử về quá trình Australia đưa quân đội trực tiếp tham chiến tại tỉnh Phước Tuy (từ Đội huấn luyện AATTV năm 1962 đến các tiểu đoàn RAR giai đoạn 1965-1973), làm rõ sự phân công chiến lược khi Hoa Kỳ giữ vai trò chỉ huy tổng lực còn Australia đảm nhiệm vai trò đối tác hỗ trợ hợp thức hóa tính chất "liên quân quốc tế" cho cuộc chiến tranh của chủ nghĩa thực dân mới.
  3. Luận giải tác động của thất bại quân sự năm 1975: Sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn và việc Mỹ rút lui khỏi Đông Dương đã chấm dứt hoàn toàn ảo tưởng về chiến lược dựa dẫm an ninh tuyệt đối vào siêu cường phương Tây, trở thành bước ngoặt bản lề buộc chính sách đối ngoại của Australia phải tự chủ hơn và khởi động tiến trình "Hướng về châu Á" trong các thập niên tiếp theo.

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài là một trong những công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận toàn diện vai trò đồng minh chiến lược của Australia với Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam, vượt ra khỏi các bài viết nghiên cứu ngắn mang tính khái quát dẫn nhập. Đề tài cung cấp minh chứng thực tiễn sinh động khẳng định các nguyên lý của Chủ nghĩa hiện thực: liên minh quốc tế chỉ tồn tại dựa trên sự tương thích về mặt lợi ích, và khi lợi ích thay đổi hoặc mục tiêu phi nghĩa thất bại, cấu trúc liên minh sẽ phải tự điều chỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi không gian tác chiến chủ yếu tại địa bàn tỉnh Phước Tuy (Núi Đất, Long Tân, Bình Ba) và Sài Gòn; nguồn tài liệu tham khảo chính yếu dựa trên các tư liệu thứ cấp đã xuất bản, kỷ yếu hội thảo và các bài viết học thuật, chưa khai thác trực tiếp được hệ thống hồ sơ giải mật từ Cục Lưu trữ Quốc gia Australia (National Archives of Australia) hay tài liệu ngoại giao tuyệt mật của Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh phản chiến rộng lớn trong lòng xã hội Australia đối với cuộc chiến tranh này chưa được đào sâu tương xứng.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả gợi mở việc khảo sát tiến trình điều chỉnh chính sách đối ngoại Australia hậu Chiến tranh Việt Nam, cụ thể là quá trình hình thành chính sách "Hướng về châu Á" từ sau năm 1975, cùng sự tái định hình vai trò của liên minh ANZUS trong trật tự thế giới đa cực "nhất siêu đa cường" thế kỷ XXI.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Australia học, Đông phương học, Quan hệ quốc tế, Lịch sử ngoại giao và Lịch sử quân sự thế giới.

Những phần nội dung mang giá trị tham khảo cao gồm:

  • Toàn bộ khung lý thuyết về liên minh quốc tế của Chủ nghĩa hiện thực gắn liền với các học giả kinh điển (Waltz, Morgenthau, Huntington).
  • Hệ thống phụ lục phong phú chứa đựng niên biểu sự kiện ngoại giao Australia - Hoa Kỳ, danh sách các đời Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Australia, bản đồ căn cứ quân sự liên hiệp, cùng bảng số liệu thống kê về viện trợ kinh tế, ODA giáo dục của Australia cho Đông Nam Á và miền Nam Việt Nam giai đoạn 1945-1975.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân sâu xa nào khiến Australia từ bỏ sự bảo trợ an ninh của Anh để chuyển sang liên minh với Hoa Kỳ?
Nguyên nhân xuất phát từ sự kiện Chiến tranh Thái Bình Dương năm 1942: quân đội Hoàng gia Anh liên tiếp thất bại ở châu Á, thành phố Darwin của Australia bị quân Nhật tấn công trực tiếp. Nước Anh bộc lộ rõ sự bất lực trong việc bảo vệ lãnh thổ hải ngoại khi ưu tiên quyền lợi sinh tồn tại châu Âu và Bắc Phi, đồng thời từng bước rút lui khỏi bờ Đông kênh đào Suez. Do đó, Australia bắt buộc phải tìm kiếm sự bảo trợ an ninh mới từ siêu cường Hoa Kỳ qua Hiệp ước ANZUS (1951).

2. Australia đã triển khai lực lượng quân sự tham chiến tại miền Nam Việt Nam qua các giai đoạn nào và ở đâu?
Australia bắt đầu can thiệp quân sự bằng việc cử Đội Huấn luyện Quân sự AATTV từ tháng 10/1962. Giai đoạn 1965-1973, Australia đưa lực lượng bộ binh tác chiến quy mô lớn gồm các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Hoàng gia Australia (RAR) cùng Không quân Hoàng gia (RAAF), đồn trú và kiểm soát tác chiến chủ yếu tại tỉnh Phước Tuy (với các căn cứ và trận đánh tiêu biểu tại Núi Đất, Long Tân, Bình Ba) và địa bàn Sài Gòn.

3. Khái niệm "Chủ nghĩa thực dân mới" được tác giả áp dụng giải thích cuộc chiến của Mỹ tại miền Nam Việt Nam như thế nào?
Chủ nghĩa thực dân mới được giải thích là hình thức thống trị gián tiếp thông qua việc dựng lên chính quyền và quân đội bản xứ tay sai (Việt Nam Cộng hòa), sử dụng các gói viện trợ kinh tế (với hơn 80% là hàng hóa Mỹ nhằm tiêu thụ hàng ứ đọng), cung cấp vũ khí và hệ thống cố vấn chỉ huy nhằm biến miền Nam Việt Nam thành tiền đồn quân sự ngăn chặn chủ nghĩa xã hội, cột chặt quyền lợi chính quyền tay sai vào tư bản độc quyền nhà nước Hoa Kỳ.

4. Kế hoạch Colombo và Hiệp ước Fulbright đóng vai trò gì trong quan hệ đồng minh của Australia tại Việt Nam?
Đây là hai công cụ trọng yếu trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục - khoa học kỹ thuật. Australia thông qua Hiệp ước Fulbright và Kế hoạch Colombo (triển khai từ năm 1951 đến 1979) để cấp học bổng, tiếp nhận học sinh, sinh viên từ miền Nam Việt Nam và các nước Đông Nam Á sang Australia đào tạo. Mục tiêu là truyền bá các giá trị tư bản phương Tây và đào tạo đội ngũ nhân lực bản địa thân thiện với phương Tây nhằm phục vụ lợi ích chính trị dài hạn của liên minh.

5. Cái giá mà Australia phải trả khi tham chiến cùng Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam được tác giả nêu ra là gì?
Để đổi lấy "chiếc ô bảo hộ" an ninh biên giới phía Bắc từ Hoa Kỳ, Australia đã phải áp dụng luật nghĩa vụ quân sự bắt buộc và gánh chịu tổn thất nhân mạng của các đội cố vấn, sĩ quan và thanh niên đi lính với số lượng thương vong tương đương tổng số thương vong trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới mà Australia từng tham gia cùng quân đội Anh.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Giang đã luận giải một cách thấu đáo vai trò đồng minh chiến lược của Australia với Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) dựa trên cơ sở kết hợp lý luận về liên minh quốc tế của Chủ nghĩa hiện thực và bản chất của chủ nghĩa thực dân mới. Công trình chứng minh rằng quyết định tham chiến của Australia là sự toan tính thực dụng nhằm đánh đổi nhân lực quân sự lấy cam kết bảo trợ an ninh biên giới phía Bắc từ Hoa Kỳ. Thất bại chung của cuộc chiến tranh phi nghĩa vào năm 1975 đã khép lại một thời kỳ phụ thuộc an ninh mù quáng, đồng thời đặt nền móng bản lề cho sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Australia theo hướng độc lập, tự chủ và "Hướng về châu Á".