CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài, bao gồm các khái niệm đồng minh, chiến lược, đồng minh chiến lược, chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân mới. Từ đó, chứng minh bản chất của mối quan hệ đồng minh chiến lược trong quan hệ quốc tế, sự xuất hiện và tình hình phát triển của nó, cũng như những xu hướng tính chất chung của quan hệ đồng minh chiến lược trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, cho thấy bản chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam là một hình thức chiến tranh của chủ nghĩa thực dân mới mà Hoa Kỳ là một đại diện tiêu biểu, đã áp dụng ở nhiều khu vực trên thế giới (Á, Phi, Mỹ Latinh), trong đó có miền Nam Việt Nam.
CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐỒNG MINH AUSTRALIA - HOA KỲ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-1975) Trình bày những nền tảng vai trò lần lượt của Australia và Hoa Kỳ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), từ đó tác giả sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu làm rõ những lợi ích chiến lược chung mà Australia và Hoa Kỳ đạt được khi hợp tác và tham chiến trực tiếp trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975). Ngoài ra, vai trò của nhân tố khu vực và thế giới như sự kết thúc của chiến tranh thế giới thứ hai với bài học kinh nghiệm lịch sử về vai trò của khối đồng minh trong chiến tranh trên trường quốc tế cũng là một trong những nền tảng định hình nên quan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975). QUAN HỆ ĐỒNG MINH CHIẾN LƯỢC AUSTRALIA - HOA KỲ TRONG GIAI ĐOẠN CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-1975) Trình bày những nội dung và thành tựu cụ thể trong quan hệ đồng minh chiến lược Australia-Hoa Kỳ giai đoạn 1954-1975 trên từng lĩnh vực cụ thể gồm: lĩnh vực chính trị - ngoại giao, lĩnh vực quân sự - an ninh quốc phòng, lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực văn hóa - giáo dục - khoa học kĩ thuật. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Đồng minh và đồng minh chiến lược - một hình thức liên minh dựa trên lợi ích lâu dài 1. Khái niệm đồng minh Đồng minh là sự cam kết chính thức giữa các quốc gia nhằm phối hợp hay tương trợ lẫn nhau để đối phó với vấn đề chung nào đó. Mục đích của đồng minh là cộng sức mạnh của các nước trong liên minh để tạo được quyền lực lớn hơn nhằm kiềm chế, cân bằng hoặc vượt hơn với quyền lực của đối thủ, đảm bảo lợi ích cho các thành viên. Sự hình thành đồng minh là một biện pháp tập hợp lực lượng, đó cũng là cách thức thay đổi cán cân so sánh quyền lực nhanh nhất.
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các liên minh quân sự-chính trị chiếm vị trí đáng kể. Đó là sự cam kết phối hợp giữa hai hay nhiều quốc gia hỗ trợ lẫn nhau về an ninh và quân sự. Trong các liên minh chính trị-quân sự đó có thể tồn tại các mối quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng những mối quan hệ ấy không trở thành sức mạnh nổi trội, căn bản trong liên minh, chúng chỉ giúp củng cố mối quan hệ cơ bản và nổi trội nhất trong liên minh là quan hệ chính trị-quân sự. Đối với các mối quan hệ kinh tế, văn hóa xã hội khi trở thành nổi trội, chiếm ưu thế về căn bản, các tập hợp lực lượng đó có xu hướng trở thành liên hiệp, tổ chức quốc tế hơn là trở thành đồng minh.
Đồng minh hay quan hệ đồng minh thường xuất hiện khi có xung đột, đấu tranh, mà lịch sử thế giới lúc nào cũng đầy rẫy xung đột - đấu tranh, nên có thể nói đồng minh là hiện tượng tồn tại nhiều xuyên suốt trong lịch sử nhân loại. Khái niệm đồng minh chiến lược Chiến lược theo Đại từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam xuất bản năm 2002 có nghĩa là có tính chất toàn cục, được vận dụng suốt trong một giai đoạn nhằm mục đích nhất định. Như vậy, đồng minh chiến lược có thể được hiểu là sự liên kết đặc biệt vì lợi ích quốc gia chung trên nhiều lĩnh vực mà mỗi bên chủ thể đều có tầm quan trọng sống còn, mang tính chiến lược, xuyên suốt trong một giai đoạn đối với lợi ích quốc gia ngắn hạn hoặc dài hạn của bên chủ thể còn lại. Đồng minh chiến lược vì vậy có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự 19 phát triển môi trường an ninh của mỗi chủ thể, quyết định phạm vi không gian sinh tồn, mở rộng ảnh hưởng và phát triển an ninh quốc phòng của mỗi bên.
Trên thế giới, các đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ còn bao gồm những nước không thuộc NATO (Major Non-NATO Ally - MNNA), là những nước Á, Phi, Mỹ Latinh như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan, Australia, và New Zealand. Theo đó, Hoa Kỳ và những nước MNNA đều có trách nhiệm và nghĩa vụ quân sự, làm hậu phương cho nhau trong các cuộc chiến tranh xung đột trên phạm vi toàn cầu, hỗ trợ nhau trên mọi lĩnh vực, đặc biệt mang tính sống còn là lĩnh vực an ninh quân sự quốc phòng - lĩnh vực được ràng buộc ở mức độ cao nhất bằng Hiệp ước phòng thủ chung. Theo bài viết Cooperation Among Democraties: The European Influence on US Foreign Policy của Thomas Risse-Keppen do NXB Đại học Princeton xuất bản năm 1995, trong chủ nghĩa hiện thực, các quốc gia cố gắng giữ cân bằng hơn là liên kết, các đồng minh hình thành vì các quốc gia vừa và nhỏ cần liên kết để cùng đối phó với một mối nguy cơ đe dọa chung, để cùng có khả năng tồn tại trong hệ thống quốc tế hỗn loạn, vô chính phủ. Các hình thức của đồng minh, vì vậy, cũng thay đổi theo sức mạnh của quốc gia.
Đó là lý do các cường quốc không cần liên kết với nhau cũng có thể đảm bảo sự tồn tại của họ trong cơ cấu lưỡng cực tại từng khu vực nói riêng cũng như trên toàn thế giới nói chung. Vì vậy, đồng minh chỉ tồn tại khi lợi ích của các bên tham gia đang trong quá trình dần đạt được tối ưu hóa. Các nước đồng minh trong mối quan hệ với cường quốc chủ yếu có thể được xem như một vốn quý trong cuộc cạnh tranh giữa hai bá chủ tranh nhau vị trí bá quyền. Những lợi ích đạt được càng có ý nghĩa quan trọng đối với nước bá quyền, việc thu nhận các nước đồng minh vừa và nhỏ ngày càng có ý nghĩa.
Nhưng một đồng minh ly khai có thể khiến các cường quốc lo ngại dẫn đến một loạt phản ứng như hiệu ứng Domino. Trong khi đó Waltz trong The origins of alliance cho rằng các nước đồng minh liên kết với cường quốc chủ yếu để đối phó với mối đe dọa hơn là với những sức mạnh kinh tế - quân sự. Các nước đồng minh vừa và nhỏ cảm thấy bị đe dọa trước những đối thủ vừa gần gũi về địa lý, vừa có lực lượng quân độ 20 mang tính phòng vệ vượt trội và còn luôn mang tư tưởng tấn công, bành trướng ảnh hưởng. Sự gần gũi về mặt địa lý giữa Trung Quốc và Australia, thiên hạ quan và học thuyết Nhất biên đảo của người Trung Quốc cùng với ưu thế về dân số, lực lượng chiến đấu kết hợp với tư tưởng Mao mang khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa cao tột độ là mối đe dọa xuất phát từ Trung Quốc dẫn đến việc ra đời ANZUS.
Cả ba nhân tố này tạo nên mối đe dọa mang tên Cộng sản (Trung Quốc). Trung Cộng chứ không phải Việt Cộng, mới là mối đe dọa an ninh thực sự có thể tấn công Australia theo nhận thức đương thời vào những năm 50 của thế kỷ XX. Waltz cũng cho rằng “sự đóng góp của các quốc gia vừa và nhỏ đối với đồng minh thực sự có ích ngay cả trong thế giới lưỡng cực. Vì vậy, các chính sách và chiến lược của các cường quốc chủ yếu được hình thành phụ thuộc những tính toán và lợi ích riêng của các cường quốc chủ yếu đó.” Đó là lý do, mặc dù Hoa Kỳ mạnh hơn cả Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippines nhưng các nước đồng minh châu Á Thái Bình Dương này đã có ảnh hưởng đáng kể đối với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, thậm chí đối với khu vực chứa đựng lợi quốc gia sống còn của Hoa Kỳ là Mỹ Latinh.
Trong khi đó, theo lý thuyết tự do chủ nghĩa về quan hệ quốc tế, các nền dân chủ tư sản (dân chủ tự do) ít khi gây chiến với nhau vì cùng chia sẻ một nhận thức chung về hòa bình, do các quy chuẩn dân chủ điều chỉnh các tiến trình quyết định trong nước của họ. Vì cùng một nhận thức cộng đồng và chia sẻ các giá trị bản sắc chung, họ có thể khắc phục những rào cản trong hợp tác quốc tế, và lập ra các liên minh. Các quy chuẩn điều chỉnh quan hệ tương tác trong các liên kết đồng minh đó vì vậy sẽ phản ánh các giá trị chung, và mang nét tương đồng, ít mâu thuẫn với các quy chuẩn của tiến trình ra quyết định trong nước. Quyền lực là yêu cầu then chốt đối với việc bảo đảm độc lập và lãnh thổ quốc gia.
Nó có ý nghĩa quyết định đối với việc ngăn chặn xâm lược và gây ảnh hưởng với các quốc gia khác về các vấn đề quốc tế. Hay nói theo giáo sư Samuel Huntington phát biểu “Quyền lực cho phép người ta tạo dựng môi trường cho riêng họ để phản ánh lợi ích của họ. Đặc biệt, nó khiến cho một quốc gia có khả năng bảo vệ an ninh và ngăn ngừa, giảm bớt hoặc đánh bại những mối đe dọa an ninh đó”. Bao giờ một quốc gia còn muốn khẳng định vị thế, thúc đẩy lợi ích 21 quốc gia và vị thế chủ động hơn, quốc gia đó còn cần đến quyền lực.
Hans Morgenthau và các nhà chiến lược theo chủ nghĩa hiện thực cho rằng hệ thống quan hệ quốc tế là cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực, suy nghĩ và hành động theo lợi ích quốc gia, và suy nghĩ, hành động đó được xác định bằng quyền lực. Sự hợp tác giữa các quốc gia có những hạn chế của nó, chủ yếu vì nó bị kiềm chế bởi logic của cuộc cạnh tranh an nnh mà không một sự hợp tác đồng minh nào có thể loại bỏ được.