Chương 1 TỔNG QUAN 1. Bệnh tim thiếu máu cục bộ 1.Giải phẫu động mạch vành Có hai động mạch vành (ĐMV): ĐMV phải và ĐMV trái xuất phát từ gốc ĐMC qua trung gian là những xoang Valsava và chạy trên bề mặt của tim (giữa cơ tim và ngoại tâm mạc). Những xoang Valsava có những vai trò như một bình chứa để duy trì một cung lượng vành khá ổn định [20], [26]. ĐMV trái (có nguyên ủy xuất phát từ xoang Valsava trước trái) - Những nhánh vách chạy xuyên vào vách liên thất.
Số lượng và kích thước rất thay đổi, nhưng đều có một nhánh lớn đầu tiên tách ra thẳng góc và chia thành các nhánh nhỏ. - Những nhánh chéo chạy ở thành trước bên, có từ 1-3 nhánh chéo. Trong 80% trường hợp, động mạch liên thất trước chạy vòng ra đến mỏm tim, còn 20% có động mạch liên thất sau của ĐMV phải phát triển hơn [16]. * Động mạch mũ: Chạy trong rãnh nhĩ thất, có vai trò thay đổi tùy theo sự ưu năng hay không của ĐMV phải.
ĐM mũ cho 2-3 nhánh bở cung cấp máu cho thành bên của thất trái. Trường hợp đặc biệt, động mạch liên thất trước và động mạch mũ có thể xuất phát từ 2 thân riêng biệt ở ĐMC. ĐMV phải (có nguyên ủy xuất phát từ xoang Valsava trước phải) Động mạch vành phải chạy trong rãnh nhĩ thất phải. Ở đoạn gần cho nhánh vào nhĩ (động mạch nút xoang) và thất phải (động mạch phễu) rồi vòng ra bờ phải, tới chữ thập của tim rồi chia nhánh động mạch liên thất sau và quặt ngược thất trái.
Khi ưu năng trái, động mạch liên thất sau và nhánh quặt ngược thất trái đến từ động mạch mũ [26]. ` download by : skknchat@gmail. Hình minh họa hệ động mạch vành [21] 1. Bệnh tim thiếu máu cục bộ 1.
Khái niệm và phân loại Bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ bệnh sinh là tổn thương do sự tích tụ các mảng vữa xơ ở thành ĐMV, gây hẹp lòng ĐMV làm giảm cung cấp máu cho vùng cơ tim tương ứng. Sau thời gian tiến triển của mảng vữa xơ mà không có triệu trứng lâm sàng, khi lòng ĐMV bị hẹp tới mức độ mà khả năng cung cấp máu không còn đáp ứng đủ cho nuôi dưỡng cơ tim sẽ xuất hiện các triệu chứng lâm sàng như cơn đau thắt ngực, các biến chứng do mảng vữa xơ nứt vỡ làm bít tắc lòng động mạch vành gây nhồi máu cơ tim [16], [53]. Trong hai thập niên gần đây, có nhiều cách phân loại bệnh. Ở Việt Nam các tác giả chia bệnh ĐMV thành hai nhóm [19], [53].
- Bệnh ĐMV (Bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, suy vành) gồm: + Bệnh ĐMV mạn ổn định (ĐTNÔĐ): là dạng thường gặp nhất. Trong bệnh ĐMV nói chung, bệnh động mạch vành mạn ổn định chiếm hơn một nửa số bệnh nhân. + Thiếu máu cơ tim cục bộ thể thầm lặng. - Hội chứng mạch vành cấp: + Nhồi máu cơ tim ST chênh lên.
+ Nhồi máu cơ tim ST không chênh lên. + ĐTN không ổn định. ` download by : skknchat@gmail.Cơ chế bệnh sinh * Sự phát triển của mảng xơ vữa Bệnh lý ĐTNÔĐ ở đây được hiểu là do bệnh lý của mảng vữa động mạch vành phát triển. Các yếu tố nguy cơ hình thành và phát triển mảng vữa xơ ĐMV (cũng như các động mạch khác) bao gồm: - Loại YTNC không thay đổi được : tuổi cao, giới nam, tiền sử gia đình có người có biến cố tim mạch sớm.
- Loại YTNC có thể thay đổi được: hút thuốc lá, béo phì, lười vận động, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường… - Xơ vữa động mạch là một bệnh toàn thể, mạn tính, diễn ra sớm và rộng khắp. Đó là sự tích lũy mỡ và xơ ở nội mạc của các động mạch lớn và trung bình. Mảng vữa xơ tiến triển theo thời gian, với thành phần chủ yếu là xơ ở các giai đoạn tiến triển, có thể phân thành 3 giai đoạn: giai đoạn bắt đầu, giai đoạn ổn định hoặc tiến triển từ từ, giai đoạn biến chứng, có nhiều loại: chảy máu trong mảng xơ vữa, bóc tách thành động mạch giữa lớp nội mạc và lớp giữa, phình động mạch, nứt, vỡ, gây hình thành huyết khối (có tắc hoặc không tắc). - Đối với bệnh mạch vành ổn định mạn tính, mảng vữa xơ thường có lớp vỏ dày, ổn định, ít phản ứng viêm cũng như các yếu tố bất ổn khác như trường hợp mảng vữa xơ không ổn định.
- Khi mảng vữa xơ mức độ vừa gây hẹp 40-70% đường kính lòng mạch đa phần bệnh nhân không có triệu chứng gì. Trường hợp này có thể phát hiện được một số trường hợp có giảm dự trữ dòng chảy mạch vành ( FFR). Khi mảng xơ vữa lớn gây hẹp trên 70% lòng mạch thường có thể gây triệu chứng lâm sàng đau ngực khi gắng sức [9]. Chẩn đoán bệnh tim thiếu máu cục bộ [14], [16], [20].
* Cơn đau thắt ngực: Hỏi bệnh tỉ mỉ và theo một quy trình chặt chẽ khai thác các đặc điểm mỗi cơn đau thắt ngực về 6 mặt tính chất, vị trí, hướng lan, độ dài, hoàn cảnh gây ra hoặc chấm dứt. ` download by : skknchat@gmail.com 6 - Vị trí đau: là một vùng và không phải là một điểm, thường xuất hiện ở phía sau xương ức. - Hướng lan: Đau có thể lan lên cổ, vai, dưới hàm, thượng vị, sau lưng, và hay gặp hơn là hướng lan lên vai trái rồi lan xuống mặt trong cánh tay trái, có khi lan xuống tới ngón 4, 5. - Hoàn cảnh xuất hiện: thường xuất hiện khi gắng sức, xúc cảm mạnh, gặp lạnh, sau bữa ăn nhiều hoặc hút thuốc lá.
Một số trường hợp có thể xuất hiện về đêm, khi thay đổi tư thế, hoặc có khi kèm cơn nhịp nhanh. - Tính chất: hầu hết các bệnh nhân mô tả CĐTN như thắt lại, nghẹt, rát, bị đè nặng trước ngực và đôi khi cảm giác ê buốt. Một số bệnh nhân có khó thở, mệt lả, đau đầu, buồn nôn, vã mồ hôi… - Thời gian: cơn đau thường kéo dài khoảng vài phút, có thể dài hơn nhưng không quá 20 phút (nếu đau kéo dài hơn và xuất hiện ngay cả khi nghỉ thì cần nghĩ đến CĐTN không ổn định hoặc NMCT). Những cơn đau xảy ra do xúc cảm thường kéo dài hơn là đau do gắng sức.
Những cơn đau mà chỉ kéo dài dưới 1 phút thì nên tìm những nguyên nhân khác ngoài tim. Cơn đau mất dần sau khi ngưng gắng sức hoặc dùng thuốc giãn vành. Chẩn đoán cơn đau thắt ngực Theo AHA/ACC xác định cơn đau thắt ngực điển hình gồm 3 yếu tố [14]: (1) Đau thắt, chẹn sau xương ức với tính chất và thời gian điển hình. (2) Xảy ra khi gắng sức hoặc xúc cảm.
(3) Đỡ đau khi dùng nitrat. + CĐTN không điển hình: khi chỉ có 2 trong 3 yếu tố trên. Phân mức độ đau thắt ngực: Cho đến nay, cách phân loại mức độ đau thắt ngực theo Hiệp hội Tim mạch Canada (Canadian Cardiovascular Society) là được ứng dụng rộng rãi nhất và rất thực tế (Bảng 1. ` download by : skknchat@gmail.1: Phân độ đau thắt ngực [14],[16].
(Theo hiệp hội tim mạch Canada - CCS) Độ Đặc diểm Chú thích Những hoạt động thể lực Đau thắt ngực chỉ xuất hiện khi hoạt động I bình thường không gây thể lực rất mạnh. đau thắt ngực. Đau thắt ngực xuất hiện khi leo cao >1 Hạn chế nhẹ hoạt động II tầng gác thông thường bằng cầu thang thể lực bình thường. hoặc đi bộ dài hơn 2 dãy nhà.
Hạn chế đáng kể hoạt Đau thắt ngực khi đi bộ dài từ 1-2 dãy III động thể lực thông nhà hoặc leo cao 1 tầng gác. Các hoạt động thể lực Đau thắt ngực khi làm việc nhẹ, khi gắng IV bình thường đều gây đau sức nhẹ. * Khám thực thể. + Để phát hiện các yếu tố nguy cơ hay các biến chứng có thể gặp, giúp phân biệt các nguyên nhân khác gây đau thắt ngực như: hẹp động mạch chủ, bệnh cơ tim phì đại, bệnh màng ngoài tim, viêm khớp ức sườn.
+ Các yếu tố nguy cơ cao của bệnh ĐMV có thể gặp là: tăng huyết áp (THA), tổn thương đáy mắt, các mảng lắng đọng cholesterol dưới da, các bằng chứng bệnh động mạch ngoại biên. + Trong cơn đau có thể nghe tiếng T3, T4, ran ẩm ở phổi. * Chẩn đoán dựa vào thăm dò cận lâm sàng. + Các xét nghiệm cơ bản [16].
Các xét nghiệm cơ bản đó bao gồm: Hemoglobin (giúp loại trừ một số trường hợp đau thắt ngực cơ năng do thiếu máu), Glucose máu lúc đói, một số thành phần ` download by : skknchat@gmail. Ngoài ra cũng cần làm một số xét nghiệm khác khi cần thiết để chẩn đoán nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim như: cường giáp, nghiện ma tuý, cường giao cảm. + Điện tâm đồ lúc nghỉ [14]. Điện tâm đồ lúc nghỉ là một thăm dò sàng lọc trong bệnh ĐMV.
Khoảng hơn 60% bệnh nhân ĐTNÔĐ có điện tâm đồ lúc nghỉ bình thường. Một số bệnh nhân có thể có sóng Q (chứng tỏ có NMCT cũ), đoạn ST chênh xuống. Ngoài ra điện tâm đồ còn giúp phát hiện các tổn thương khác như phì đại thất trái, block nhánh, hội chứng tiền kích thích. Điện tâm đồ trong cơn đau có thể thấy sự thay đổi của sóng T, đoạn ST (đoạn ST chênh xuống, T âm).
Tuy nhiên, nếu điện tâm đồ trong cơn đau bình thường cũng không loại trừ được chẩn đoán. + Điện tâm đồ khi gắng sức [14]. Điện tâm đồ khi gắng sức hay nghiệm pháp gắng sức (NPGS) với xe đạp lực kế hay thảm chạy để làm tăng nhu cầu oxy cơ tim, làm cơ tim tăng co bóp, tăng tiền gánh và hậu gánh là một thăm dò rất quan trọng trong chẩn đoán ĐTNÔĐ. Việc tăng nhu cầu oxy cơ tim sẽ dẫn đến tăng nhịp tim và ảnh hưởng đến huyết áp.
Dựa vào sự tăng nhịp tim này để xác định khả năng gắng sức của bệnh nhân. Gắng sức thể lực giúp dự đoán khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân và giai đoạn gây ra thiếu máu cơ tim. Tuy nhiên, gắng sức thể lực không thể thực hiện được ở những bệnh nhân có chứng đau cách hồi, bệnh phổi nặng, bệnh khớp, hoặc những dị tật, những bệnh có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện gắng sức của bệnh nhân. NPGS điện tâm đồ giúp đánh giá được những bệnh nhân có nguy cơ cao về bệnh mạch vành.
NPGS được chỉ định trong các trường hợp nghi ngờ ĐTNÔĐ dựa trên tuổi, giới, triệu chứng lâm sàng, có thể có block nhánh phải hoặc đoạn ST chênh xuống < 1 mm lúc nghỉ.