Luận văn: Áp dụng pháp luật điều tra tội xâm phạm sở hữu tại TP Thanh Hóa

Tài liệu nghiên cứu Áp dụng pháp luật trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu của cơ quan cảnh sát điều tra qua thực, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2023

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan áp dụng pháp luật điều tra tội xâm phạm sở hữu

Việc áp dụng pháp luật trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu là một nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT), đóng vai trò then chốt trong công tác phòng chống tội phạm và bảo vệ tài sản của công dân, tổ chức. Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về chủ đề này, đặc biệt qua thực tiễn Công an thành phố Thanh Hóa, cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cơ sở lý luận và thực trạng thi hành pháp luật. Các tội phạm xâm phạm sở hữu như tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ngày càng diễn biến phức tạp với thủ đoạn tinh vi, đòi hỏi hoạt động điều tra của cơ quan CSĐT phải không ngừng nâng cao về chuyên môn và nghiệp vụ. Quá trình này bắt đầu từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, thu thập chứng cứ, cho đến khi kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ đề nghị truy tố. Việc vận dụng đúng đắn các quy định của Bộ luật Hình sựBộ luật Tố tụng Hình sự là nền tảng để đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Phân tích từ các luận văn ngành luật cho thấy, hiệu quả của công tác điều tra phụ thuộc lớn vào năng lực của điều tra viên và sự phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra. Nghiên cứu thực tiễn tại một địa bàn cụ thể như Thanh Hóa giúp làm rõ những bài học kinh nghiệm, chỉ ra các vướng mắc và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thiết thực.

1.1. Khái niệm và đặc điểm các tội xâm phạm quyền sở hữu

Các tội phạm xâm phạm sở hữu là nhóm tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, có chung đặc điểm là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Các tội danh phổ biến bao gồm trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đặc điểm chung của nhóm tội này là hành vi phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản, gây thiệt hại trực tiếp về vật chất. Tuy nhiên, mỗi tội danh lại có cấu thành tội phạm riêng biệt về hành vi khách quan, chủ thể, và ý thức chủ quan, đòi hỏi cơ quan điều tra phải xác định chính xác để tránh nhầm lẫn tội danh. Ví dụ, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản cấu thành tội trộm cắp tài sản, trong khi hành vi công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản là dấu hiệu của tội cướp giật tài sản.

1.2. Vai trò của Cơ quan CSĐT trong đấu tranh phòng chống tội phạm

Cơ quan CSĐT giữ vai trò chủ công trong công tác điều tra tội phạm hình sự nói chung và các tội xâm phạm sở hữu nói riêng. Vai trò này được thể hiện qua việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu như khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ; khởi tố vụ án hình sự khi có đủ căn cứ. Luận văn nhấn mạnh rằng, chất lượng hoạt động của CSĐT là yếu tố quyết định đến sự thành công của toàn bộ quá trình tố tụng, góp phần răn đe, phòng ngừa và ổn định trật tự xã hội. Hiệu quả của công tác này tại Công an tỉnh Thanh Hóa là minh chứng thực tiễn cho tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ điều tra viên chuyên nghiệp, có bản lĩnh chính trị vững vàng.

II. Thách thức trong công tác điều tra tội xâm phạm sở hữu

Thực trạng điều tra tội phạm xâm phạm sở hữu tại nhiều địa phương, bao gồm cả thành phố Thanh Hóa, đang đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự tinh vi, xảo quyệt của tội phạm, đặc biệt là tội phạm sử dụng công nghệ cao để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc thu thập chứng cứ điện tử, truy vết dòng tiền qua nhiều tài khoản ngân hàng ảo đòi hỏi kỹ năng và phương tiện kỹ thuật hiện đại. Bên cạnh đó, công tác định giá tài sản trong tố tụng hình sự cũng gặp nhiều vướng mắc. Đối với các tài sản bị chiếm đoạt là đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật, hoặc tài sản vô hình, việc xác định chính xác giá trị để làm căn cứ định khung hình phạt là vô cùng phức tạp và dễ gây tranh cãi. Luận văn chỉ ra rằng, một số quy định pháp luật vẫn còn chồng chéo, chưa theo kịp thực tiễn, tạo ra những kẽ hở để tội phạm lợi dụng. Năng lực của một bộ phận điều tra viên còn hạn chế, chưa được đào tạo chuyên sâu về các loại tội phạm mới. Áp lực công việc lớn, số lượng vụ án nhiều trong khi biên chế còn mỏng cũng ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ điều tra. Hoạt động phối hợp giữa cơ quan điều tra và các cơ quan khác như ngân hàng, công ty viễn thông đôi khi chưa kịp thời, gây khó khăn cho việc xác minh thông tin. Những thách thức này đòi hỏi phải có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của cơ quan CSĐT.

2.1. Khó khăn trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ

Quá trình thu thập chứng cứ là xương sống của hoạt động điều tra. Tuy nhiên, đối với các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng, chứng cứ thường tồn tại dưới dạng dữ liệu số, dễ bị xóa, sửa đổi. Việc truy vết IP, phục hồi dữ liệu đòi hỏi thời gian và chuyên môn cao. Ngoài ra, nhiều bị hại do tâm lý e ngại hoặc thiếu hiểu biết đã không cung cấp thông tin kịp thời, gây khó khăn cho việc truy bắt đối tượng. Việc đánh giá tính hợp pháp, khách quan và liên quan của chứng cứ cũng là một thách thức, đòi hỏi điều tra viên phải có tư duy pháp lý sắc bén.

2.2. Vướng mắc trong định giá tài sản và xác định thiệt hại

Định giá tài sản trong tố tụng hình sự là hoạt động bắt buộc để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tiễn tại Công an thành phố Thanh Hóa cho thấy nhiều vụ việc gặp khó khăn khi tài sản bị chiếm đoạt không có giá trị rõ ràng trên thị trường. Hội đồng định giá tài sản đôi khi hoạt động chưa hiệu quả, kết luận định giá chậm trễ, ảnh hưởng đến thời hạn điều tra. Việc xác định thiệt hại trong các vụ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng phức tạp khi liên quan đến các giao dịch dân sự, kinh tế đan xen.

2.3. Áp lực từ dư luận và yêu cầu bảo vệ quyền con người

Các vụ án xâm phạm sở hữu, đặc biệt là các vụ lừa đảo với số tiền lớn, thường thu hút sự quan tâm của dư luận. Điều này tạo áp lực không nhỏ lên cơ quan điều tra, đòi hỏi phải nhanh chóng phá án. Song song đó, trong suốt quá trình điều tra, cơ quan CSĐT phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ quyền con người, quyền công dân của người bị tình nghi, bị can, tránh các hành vi bức cung, mớm cung, đảm bảo hoạt động kiểm sát điều tra được thực hiện đúng pháp luật.

III. Cách áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự trong điều tra

Để công tác điều tra tội phạm xâm phạm sở hữu đạt hiệu quả, việc áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự một cách chính xác và linh hoạt là yêu cầu tiên quyết. Luận văn đã hệ thống hóa các quy định pháp luật và phân tích cách vận dụng vào từng giai đoạn điều tra cụ thể. Giai đoạn đầu tiên, tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, đòi hỏi sự cẩn trọng để không bỏ lọt thông tin và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ. Trong giai đoạn điều tra, các hoạt động cốt lõi như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, đối chất, nhận dạng phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục. Đặc biệt, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam phải được Viện kiểm sát kiểm sát điều tra chặt chẽ để đảm bảo tính hợp pháp và cần thiết. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lập kế hoạch điều tra khoa học, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng điều tra viên. Việc vận dụng các biện pháp điều tra đặc biệt theo quy định của pháp luật cũng cần được xem xét trong các vụ án có tổ chức, phức tạp. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa điều tra viên và Kiểm sát viên ngay từ đầu giúp định hướng điều tra đúng, củng cố hệ thống chứng cứ vững chắc, tránh việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động điều tra của cơ quan CSĐT.

3.1. Quy trình khởi tố vụ án các tội xâm phạm sở hữu

Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý mở đầu cho quá trình điều tra. Căn cứ khởi tố dựa trên tin báo, tố giác của cá nhân, tổ chức hoặc kết quả tự phát hiện của cơ quan có thẩm quyền. Đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu, dấu hiệu tội phạm thường là thông tin về việc mất mát tài sản một cách bất thường. Điều tra viên phải nhanh chóng xác minh ban đầu, thu thập các tài liệu sơ bộ để đánh giá có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không. Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố phải được gửi đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát, đảm bảo tính pháp lý và tránh oan sai.

3.2. Áp dụng các biện pháp điều tra theo luật định

Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định một hệ thống các biện pháp điều tra đa dạng. Tùy thuộc vào đặc điểm của từng vụ án, điều tra viên sẽ lựa chọn áp dụng các biện pháp phù hợp như khám xét nơi ở, nơi làm việc để thu thập chứng cứ; trưng cầu giám định chữ ký, giám định tài liệu trong các vụ lừa đảo; thực nghiệm điều tra để kiểm tra lại các tình tiết của vụ án. Việc tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục khi tiến hành các biện pháp này là bắt buộc, bởi mọi chứng cứ thu thập được từ hoạt động vi phạm tố tụng đều không có giá trị pháp lý.

IV. Phương pháp thu thập chứng cứ định giá tài sản hiệu quả

Chứng cứ là cơ sở để chứng minh tội phạm, và định giá tài sản là căn cứ để xác định mức độ trách nhiệm hình sự. Do đó, phương pháp thu thập chứng cứ và định giá tài sản có ý nghĩa quyết định đến kết quả điều tra. Luận văn đã đề xuất nhiều phương pháp hiệu quả dựa trên thực tiễn Công an thành phố Thanh Hóa. Đối với tội trộm cắp tài sảncướp giật tài sản, công tác khám nghiệm hiện trường phải được thực hiện tỉ mỉ để thu thập dấu vết (vân tay, dấu giày), vật chứng. Việc trích xuất camera an ninh, lấy lời khai nhân chứng ngay tại thời điểm "nóng" giúp nhanh chóng khoanh vùng đối tượng. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đặc biệt là lừa đảo qua mạng, phương pháp điều tra tập trung vào việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật số: phối hợp với ngân hàng để phong tỏa tài khoản, truy vết giao dịch; yêu cầu nhà mạng cung cấp dữ liệu về các số điện thoại nghi vấn. Về định giá tài sản trong tố tụng hình sự, giải pháp được đưa ra là cần xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan CSĐT và Hội đồng định giá, chủ động thu thập các thông tin về giá trị tài sản từ nhiều nguồn khác nhau để cung cấp cho Hội đồng, rút ngắn thời gian và nâng cao tính chính xác của kết luận định giá.

4.1. Kỹ năng thu thập bảo quản vật chứng và dấu vết

Vật chứng và dấu vết thu được tại hiện trường là nguồn chứng cứ vật chất quan trọng. Điều tra viên cần có kỹ năng phát hiện, thu lượm và bảo quản chúng một cách khoa học để đảm bảo giá trị chứng minh. Việc lập biên bản, niêm phong, chụp ảnh, mô tả chi tiết vật chứng là thủ tục bắt buộc. Bất kỳ sai sót nào trong quá trình này cũng có thể dẫn đến việc chứng cứ bị hủy bỏ, gây bất lợi cho quá trình chứng minh tội phạm. Nâng cao kỹ năng này là một phần quan trọng trong công tác điều tra tội phạm.

4.2. Vai trò của định giá tài sản trong tố tụng hình sự

Kết luận định giá tài sản không chỉ là căn cứ để khởi tố, định khung hình phạt mà còn là cơ sở để xác định trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại cho bị hại. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt là yếu tố định lượng quan trọng trong cấu thành tội phạm của hầu hết các tội phạm xâm phạm sở hữu. Do đó, một kết luận định giá chính xác, khách quan và kịp thời sẽ giúp hoạt động điều tra của cơ quan CSĐT diễn ra thuận lợi, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

V. Thực tiễn áp dụng pháp luật tại Công an TP

Nghiên cứu điển hình tại Công an thành phố Thanh Hóa mang lại những số liệu và bài học thực tiễn giá trị. Thực trạng điều tra tội phạm xâm phạm sở hữu tại địa bàn cho thấy những kết quả tích cực. Tỷ lệ điều tra khám phá án cao, nhiều băng nhóm tội phạm chuyên trộm cắp, lừa đảo đã bị triệt phá, góp phần ổn định an ninh trật tự. Cơ quan CSĐT Công an thành phố đã chủ động áp dụng Bộ luật Hình sự và Tố tụng Hình sự một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình địa phương. Công tác phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp trong kiểm sát điều tra được duy trì thường xuyên, chặt chẽ, hạn chế các trường hợp oan sai, bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, luận văn cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại. Công tác phòng chống tội phạm công nghệ cao còn gặp nhiều khó khăn do thiếu trang thiết bị chuyên dụng. Việc định giá tài sản đối với một số loại hàng hóa đặc thù vẫn còn lúng túng. Số liệu thống kê cho thấy, các vụ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng có xu hướng gia tăng, đặt ra yêu cầu mới cho hoạt động điều tra. Những phân tích từ thực tiễn này là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quảkiến nghị hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới.

5.1. Kết quả đạt được trong công tác điều tra khám phá án

Thông qua các số liệu thống kê trong giai đoạn nghiên cứu, Công an thành phố Thanh Hóa đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Hàng trăm vụ án liên quan đến tội trộm cắp tài sản, cướp giật đã được làm rõ. Nhiều chuyên án lớn về lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm đã được khám phá thành công, thu hồi tài sản trị giá hàng tỷ đồng trả lại cho người bị hại. Những kết quả này khẳng định năng lực và sự nỗ lực của lực lượng CSĐT địa phương.

5.2. Những vụ án điển hình về tội phạm xâm phạm sở hữu

Luận văn phân tích một số vụ án điển hình đã được cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa điều tra thành công. Các vụ án này cho thấy rõ phương thức, thủ đoạn của tội phạm, từ việc đột nhập trộm cắp chuyên nghiệp đến việc xây dựng các kịch bản lừa đảo tinh vi qua điện thoại, mạng xã hội. Việc phân tích các vụ án này không chỉ rút ra kinh nghiệm trong công tác điều tra tội phạm mà còn là tài liệu tuyên truyền, cảnh báo hữu ích cho người dân.

VI. Giải pháp nâng cao hiệu quả điều tra tội xâm phạm sở hữu

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng điều tra tội phạm tại Thanh Hóa, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ. Về mặt pháp luật, cần có kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, bổ sung các quy định cụ thể hơn về thu thập chứng cứ điện tử và quy trình định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Về mặt tổ chức, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ điều tra viên, đặc biệt là kiến thức về tội phạm công nghệ cao và kỹ năng điều tra các vụ án kinh tế phức tạp. Đầu tư trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại cho cơ quan CSĐT là một yêu cầu cấp bách. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh cơ chế phối hợp liên ngành giữa Công an - Viện kiểm sát - Tòa án và các tổ chức liên quan như ngân hàng, nhà mạng. Cuối cùng, giải pháp nâng cao hiệu quả không thể thiếu công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân nâng cao cảnh giác, chủ động tham gia vào công tác phòng chống tội phạm. Những giải pháp này khi được áp dụng sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động điều tra của cơ quan CSĐT trong tình hình mới.

6.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các văn bản hướng dẫn

Một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả mang tính gốc rễ là hoàn thiện hệ thống pháp luật. Cần có những thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết về việc phối hợp trong định giá tài sản, quy trình xử lý vật chứng là dữ liệu điện tử. Việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sựBộ luật Tố tụng Hình sự cần bám sát diễn biến của tình hình tội phạm, đặc biệt là các hình thức phạm tội mới nảy sinh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.

6.2. Nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ điều tra viên

Con người là yếu tố quyết định. Cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề để cập nhật kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn cho điều tra viên. Khuyến khích cán bộ tự học, tự nghiên cứu các luận văn ngành luật, các công trình khoa học pháp lý để nâng cao trình độ. Xây dựng đội ngũ điều tra viên vừa hồng vừa chuyên là mục tiêu cốt lõi để đáp ứng yêu cầu của công tác điều tra tội phạm.

6.3. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống tội phạm

Đối với các tội phạm có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là tội phạm lừa đảo công nghệ cao có máy chủ đặt tại nước ngoài, việc tăng cường hợp tác quốc tế là tất yếu. Xây dựng các cơ chế tương trợ tư pháp hiệu quả trong việc thu thập chứng cứ, truy bắt tội phạm sẽ giúp giải quyết triệt để các vụ án phức tạp, xuyên quốc gia, góp phần vào công cuộc phòng chống tội phạm chung của khu vực và thế giới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/07/2025
Áp dụng pháp luật trong điều tra các tội xâm phạm sở hữu của cơ quan cảnh sát điều tra qua thực tiễn công an thành phố thanh hóa luận văn thạc sỹ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu có tính chất định hướng cho các giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo đề giải quyết vụ án hình sự. 11 Khi cơ quan điều tra hay cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự không chính xác, điều đó sẽ dẫn đến các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tiếp theo cũng không chính xác, bởi các giai đoạn tố tụng hình sự tuy độc lập nhưng có mỗi quan hệ biện chứng, gắn kết chặt chẽ với nhau nhằm chung một mục đích là tìm ra sự thật của vụ án. Cùng với đó nếu việc đưa ra quyết định không khởi tố vụ án không chính xác sẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm, gây bắt bình trong dư luận. Về mặt chính trị - xã hội: Giai đoạn khởi tố là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng, khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt giai đoạn này sẽ góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.

Việc các cơ quan tiễn hành tổ tụng đưa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự chính xác, khách quan, công bằng sẽ tạo niềm tin cho nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật. Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố vụ án hình sự 12. Chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân Chức năng của cơ quan, tổ chức là phương diện hoạt động chính, chủ yếu, đặc thù, mang tính ôn định lâu dài của cơ quan, tổ chức đó. Các cơ quan có thầm quyên tiến hành tố tụng có những chức năng khác nhau.

Cơ quan điều tra có chức năng điều tra vụ án, vụ việc hình sự. Tòa án có chức năng xét xử, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố (chức năng buộc tội) và kiểm sát hoạt động tư pháp. Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện phương diện hoạt động chính, chủ yếu, đặc thù của cơ quan minh, mỗi cơ quan vẫn có thể thực hiện những nhiệm vụ khác được giao. Ví dụ, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện thêm cả nhiệm vụ thống kê tội phạm; Tòa án nhân dân khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, có quyền khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

Những 12 hoạt động trên không phải là những hoạt động chính, chủ yếu của Viện kiểm sát và Tòa án, do vậy, không phải là hoạt động thực hiện chức năng của Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 ghi nhận Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Khoản I Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyên công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Như vậy, có thê đưa ra khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân như sau: Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là phương diện hoạt động chính, chủ yếu, đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân, được quy định trong Hiến pháp, có nội dung là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Chức năng thực hành quyên công tô của Viện kiểm sát nhân dân Quyền công tổ là quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự coi là tội phạm. Cơ sở phát sinh quyền công tổ là khi tội phạm xảy ra. Từ khi có thông tin về tội phạm, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định tội phạm, tiến hành khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quá trình áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định tội phạm, người phạm tội, tiễn hành truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội băng các biện pháp khởi tố, điều tra, truy tố và thực hiện việc buộc tội của Nhà nước tại phiên tòa là quá trình thực hiện quyền công tố. Việc thực hiện quyền công tố trên thực tế để giải quyết vụ án hình sự được gọi là thực hành quyên công tô. 13 Như vậy, thực hành quyền công tố là thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm. Quyền công tố là quyền của Nhà nước.

Tuy nhiên, Nhà nước giao cho cơ quan nào thực hành quyền công tố và phạm vi thực hành quyền công tố đến đâu thì ở pháp luật của các nước quy định không giống nhau. Điều này xuất phát từ truyền thống pháp luật và cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia là khác nhau. Ở nước ta, Nhà nước giao cho (phân công) Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố. Thực hành quyền công tố là chức năng của Viện kiểm sát được ghi nhận trong Hiến pháp.

Theo các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, phạm vi thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân diễn ra trong suốt quá trình tìm kiếm, phát hiện tội phạm và quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Ở đâu mà Viện kiểm sát thực hiện việc xác minh để phát hiện tội phạm, tiến hành buộc tội (truy cứu trách nhiệm hình sự) đối với người thực hiện hành vi phạm tội, và bảo vệ quan điểm buộc tội, thì ở đó có việc thực hành quyền công tô của Viện kiểm sát. Thời điểm bắt đầu của việc thực hành quyền công tổ là từ khi thụ lý giải quyết thông tin về tội phạm (giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố) và diễn ra trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ an (giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình su) va kết thúc khi thuộc một trong các trường hợp sau: Tòa án đã xét xử xong mà không có kháng cáo, kháng nghị; Tòa án đã xét xử xong nhưng có kháng cáo, kháng nghị và Tòa án đã xét xử vụ án theo thủ tục tô tụng khác và sau đó không còn kháng nghị; hoặc vụ án đã được đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án (do bị can không phạm tội, hết thời hạn mà không chứng minh được bị can phạm tội, do người yêu cầu khởi tố đã rút yêu cầu khởi tố, do Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố, do có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, khi thực hành quyền công 14 tố, Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện các hoạt động sau đây: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp tài liệu đề làm rõ tội phạm, người phạm tội; giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiến hành một số hoạt động điều tra để làm rõ căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tổ và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tổ bị can; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tổ bị can; dé ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiễn hành một số hoạt động điều tra thực hiện; điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật; quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa; kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tỘI.

Thông qua việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, viện kiểm sát nhân dân bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không đề lọt tội phạm và người phạm tội; không người nảo bị khởi tố, bị bắt, tạm g1ữ, tạm giam, bi 15 hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật. Như vậy, chức năng thực hành quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội đều phải được xử lý trước pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật hình sự bảo vệ. Như vậy, căn cứ vào Hiến pháp năm 2013, Luật tô chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, có thê đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền công tổ là một trong các hình thức thực hiện quyền lực của Nhà nước được giao cho Viện kiểm sát để thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, bắt đầu từ khi thụ lý giải quyết thông tin về tội phạm và diễn ra trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội đều phải được xử lý hình sự theo đúng quy định của pháp luật. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát Bên cạnh chức năng thực hành quyền công tố.

Viện kiểm sát còn gánh trên vai một chức năng khác là chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ