Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Chứng minh nhân dân và áp dụng pháp luật trong cấp và quản lý Chứng minh nhân dân. - Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong cấp và quản lý Chứng minh nhân dân ở Việt Nam hiện nay. - Chương 3: Dự báo và Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong cấp và quản lý Chứng minh nhân dân ở Việt Nam hiện nay. 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CẤP VÀ QUẢN LÝ CHỨNG MINH NHÂN DÂN 1.
Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật trong cấp và quản lý Chứng minh nhân dân. Khái niệm và lịch sử phát triển về Chứng minh nhân dân Việt Nam Lịch sử loài người đã trải qua nhiều chế độ xã hội khác nhau, ở mỗi chế độ xã hội do tính tất yếu của cuộc chiến tranh giữa con người với tự nhiên để sinh tồn, cho nên con người luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ở xã hội cộng sản nguyên thủy, cuộc sống cộng đồng của con người còn sơ khai, mối quan hệ người với người là cuộc sống bầy đàn, lao động chủ yếu là săn bắn và hái lượm, vấn đề tách rời cá nhân và cộng đồng là không thể tồn tại. Vì vậy chưa xuất hiện quản lý xã hội, quản lý con người.
Từ khi chế độ chiếm hữu nô lệ xuất hiện, lúc này xã hội đã phân chia thành hai giai cấp (chủ nô và nô lệ). Khi xã hội có giai cấp thì tất yếu sẽ có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Vì vậy đã xuất hiện các hình thức quản lý xã hội, quản lý con người, mà hình thức chủ yếu là chủ nô quản lý nô lệ nhằm mục đích bóc lột nô lệ và trao đổi nô lệ với các chủ nô với nhau. Điển hình của biện pháp quản lý này là hình thức “thích chữ vào mặt nô lệ”.
Đến khi chế độ phong kiến ra đời cho đến nay, do lực lượng sản xuất phát triển; xã hội xuất hiện nhiều nhu cầu khác nhau, mặt khác do trình độ khoa học phát triển - đã xuất hiện các hình thức quản lý xã hội, quản lý con người bằng các giấy tờ tùy thân để giúp họ đi lại, quan hệ giao dịch và làm cơ sở cho việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi chế độ xã hội và của mỗi quốc gia. 9 z Ở nước ta, ngay khi nhà nước công nông còn non trẻ ra đời, chúng ta đã tiến hành cấp phát các loại giấy tờ tùy thân cho công dân, như: giấy thông hành trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, phục vụ cho nhân dân đi lại ở vùng tự do và vùng địch còn tạm chiếm. Khi hòa bình lặp lại, Nhà nước ta chủ trương cấp Giấy chứng nhận cho công dân. Đến năm 1957, Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra Nghị định số 577/CP ngày 27/11/1957 của Chính Phủ về việc cấp Chứng minh thư cho nhân dân.
Đối tượng được cấp là công dân từ 18 tuổi trở lên ở thành phố, thị xã, cán bộ công nhân viên và nhân dân ở những vùng kinh tế, quốc phòng quan trọng. Cơ quan có thẩm quyền cấp Chứng minh nhân dân là Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố (Ủy ban nhân dân hành chính tỉnh, thành phố ủy nhiệm cho sở, ty Công an). Ngoài những đối tượng quy định trên, những công dân nào từ 18 tuổi trở lên ở các địa bàn khác có nhu cầu đi lại thì được cấp giấy thông hành (do Công an huyện hoặc thị xã cấp, sau chuyển sang cho ủy ban hành chính xã cấp). Đến năm 1964, Chính phủ ra Nghị định số 150/CP ngày 02/10/1964 của Chính phủ về việc cấp Chứng minh thư cho tất cả mọi người công dân từ 18 tuổi trở lên; đối với những người từ 14 tuổi đến 17 tuổi thì được cấp Giấy chứng nhận căn cước theo Quyết định 215/TTg ngày 25/7/1972 của Thủ tướng Chính phủ.
Năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, do hai miền Bắc, Nam có sự khác nhau về các loại giấy tờ tùy thân. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của công dân giữa hai miền và đảm bảo cho công tác quản lý của nước ta được thống nhất, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 143/CP ngày 09/8/1976 về việc cấp Chứng minh nhân dân cho công dân. Quá trình thực hiện việc cấp phát và quản lý Chứng minh nhân dân từ đó đến năm 1998 đã 10 z có nhiều sự thay đổi do sự chia cắt địa giới hành chính và do sự biến đổi cơ học của công dân nên các quy định trên không còn phù hợp. Chính vì vậy, ngày 03/02/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/NĐ-CP của Chính phủ về Chứng minh nhân dân để tạo điều kiện cho việc đi lại của công dân được thuận lợi đồng thời phục vụ cho công tác quản lý xã hội của Nhà nước và công tác nghiệp vụ của ngành Công an được chặt chẽ.
Ngày 20/11/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Căn cước công dân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 trong đó có các quy định cụ thể về thẻ Căn cước công dân. Đây là văn bản pháp luật có tính hiệu lực cao nhất về giấy tờ chứng minh nhân thân của một con người, mà trước đây văn bản hiệu lực cao nhất quy định là Nghị định của Chính phủ nhưng hiện tại đã được Luật của Quốc hội quy định, hiệu lực thi hành cao hơn đồng thời cho thấy ý nghĩa đặc biệt quan trọng của thẻ Căn cước công dân (Chứng minh nhân dân). Việc Luật Căn cước công dân được ban hành đã bắt kịp những thay đổi to lớn của đất nước về kinh tế, văn hóa, xã hội đồng thời theo đúng xu hướng phát triển của thế giới và khu vực trong việc cấp và quản lý giấy tờ tùy thân của công dân. Có thể hiểu Chứng minh nhân dân (thẻ Căn cước công dân) là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của mỗi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền tự do đi lại và các quan hệ xã hội đồng thời phục vụ công tác nghiệp vụ của ngành Công an trước mắt và lâu dài.
Quan điểm trên là tương đối đúng đắn với thực tế việc sử dụng Chứng minh nhân dân và với các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về Chứng minh nhân dân. Ngoài ra còn có một số quan điểm khác có liên quan 11 z như: “Căn cước công dân là tổng hợp các thông tin cơ bản về lai lịch, đặc điểm nhân dạng của công dân để xác định một người cụ thể và phân biệt người này với người khác”.24] Mặc dù trải qua nhiều năm triển khai trên thực tế và cũng được các công trình khoa học có liên quan nghiên cứu, tuy nhiên chưa có nhiều tác giả đưa ra được khái niệm sâu sắc, chính xác nhất về Chứng minh nhân dân. Quan điểm trên dù chưa phản ánh được hết bản chất và ý nghĩa của Chứng minh nhân dân tuy nhiên đây cũng là một trong những khái niệm phản ánh tương đối khái quát về loại giấy tờ tùy thân này. Số định danh cá nhân ở Việt Nam 1.
Nhận thức về Số định danh cá nhân ở Việt Nam Điều 6 Thông tư số 10/2013/TT-BCA của Bộ Công an ngày 22/02/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 90/2010/NĐ-CP ngày 18/8/2010 quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư xác định rõ: “Số định danh cá nhân là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số, xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấp cho mỗi công dân Việt Nam và gắn với người đó từ khi sinh ra đến khi chết, không lặp lại ở người khác, dùng để xác định dữ liệu về căn cước công dân, những dữ liệu khác về công dân, sử dụng trong các giấy tờ giao dịch, đi lại và được cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền để sử dụng trong hoạt động quản lý nhà nước”. Khoản 2 Điều 19 Luật Căn cước công dân 2014 quy định: “Số thẻ Căn cước công dân là số định danh cá nhân”, như vậy mã số định danh cá nhân ở Việt Nam trùng với số thẻ Căn cước công dân, cũng là số của Chứng minh nhân dân (12 số). Khoản 2 Điều 16 Luật Hộ Tịch 2014 quy định về “Thủ tục đăng ký khai sinh” trong đó có nội dung: “Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định 12 z tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân”. Như vậy, Số định danh cá nhân được cấp cho mỗi công dân khi đăng ký khai sinh kể từ ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực 01/01/2016.
Đối với công dân đã đăng ký khai sinh trước ngày Luật Hộ tịch có hiệu lực, số định danh cá nhân được cấp khi thực hiện thủ tục cấp mới, đổi, thay thế Căn cước công dân (Chứng minh nhân dân) hoặc đăng ký thường trú. Số định danh cá nhân được ghi trên giấy khai sinh và thẻ Căn cước công dân, số này không thay đổi trong suốt cuộc đời công dân; số định danh cá nhân đã cấp cho công dân này thì không sử dụng để cấp cho công dân khác. - Giá trị pháp lý và việc sử dụng Số định danh cá nhân được xác định như sau: Số định danh cá nhân là số gốc để truy nguyên chính xác về công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ yêu cầu quản lý của các ngành, lĩnh vực và được sử dụng làm cơ sở để liên kết các thông tin cá nhân trong các cơ sở dữ liệu ngành, lĩnh vực. Các ngành, lĩnh vực thực hiện quản lý cơ sở dữ liệu ngành thông qua số định danh cá nhân để kết nối, khai thác thông tin công dân từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để bảo đảm thống nhất thông tin.