PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tại Việt Nam, các cơ sở giáo dục vẫn triển khai phương pháp đào tạo truyền thống là chủ yếu. Khi xã hội phát triển, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hay còn gọi là cuộc cách mạng số, việc cải cách và đổi mới các phương pháp giáo dục trở thành điều tất yếu. Để đáp ứng với xu hướng số hóa, các cơ sở đào tạo và đặc biệt là các trường ĐH phải nhanh chóng đổi mới chương trình, đổi mới các mô hình dạy học (về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy-học, phương thức kiểm tra-đánh giá kết quả đầu vào-đầu ra,…) nhằm đào tạo người lao động nói chung và cho thế hệ giảng viên trong thế kỷ 21 nói riêng không hững về mặt chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp mà còn đào tạo giảng viên cả về mặt công nghệ thông tin và truyền thông.
Một số phương pháp cải tiến được áp dụng nhằm tăng cường tính chủ động của người học như lấy người học làm trung tâm, kết hợp việc sử dụng công nghệ thông tin như bảng điện tử, máy chiếu hay phòng Lab trong giảng dạy. Những năm gần đây, cùng với sự bùng nổ về công nghệ thông tin, phương pháp đổi mới nổi bật có thể kể đến là E-learning – học trực tuyến qua mạng Internet với nhiều ưu điểm so với phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, E-learning thường chỉ dừng lại ở mức cung cấp thông tin, tài liệu cho người học là chủ yếu, chưa có sự kết hợp rõ ràng giữa phương pháp truyền thống và trực tuyến qua mạng. Blended Learning (phương pháp kết hợp giảng dạy truyền thống và E-learning) được báo cáo rằng có hiệu quả hơn các lớp học face-to-face (dạy học giáp mặt) hay online (dạy học trực tuyến) thuần túy.
Bằng cách kết hợp các ưu điểm của phương pháp giảng dạy truyền thống và E-learning, các phương pháp Blended Learning có thể mang đến sự thành công của sinh viên ở mức độ cao. Với Blended Learning, giảng viên sẽ hướng dẫn một phần và phần còn lại sinh viên sẽ làm việc trực tuyến không có giảng viên, sinh viên chủ động hơn và làm quen với khái niệm mới dễ dàng hơn việc tiếp thu thụ động trên các lớp học truyền thống, việc học sẽ được bổ sung bởi các hoạt động trực tuyến (online), một số hoạt động sẽ mang tính tự định hướng và tự học, một số sẽ khuyến khích sự hợp tác. Theo ông Michael B. Horn đến từ học viện Innosign: “Blended learning có nghĩa là bất cứ thời điểm nào một học sinh có thể học ít nhất một phần ở địa điểm học tập được giám sát xa nhà và ít nhất một phần thông qua mạng với một số yếu 1 tố kiểm soát học sinh thông qua thời gian, địa điểm, cách tiếp cận và/hoặc tiến độ học tập.” Lợi ích của phương pháp BL bao gồm việc tiếp cận với các nội dung chất lượng tốt hơn, liên quan nhiều hơn, khớp hơn theo nhiều dạng; các giờ học trên lớp và cấu trúc chương trình linh hoạt hơn; đáp ứng được nhu cầu học của học sinh; sinh viên có thể tiếp cận với nhiều nguồn hướng dẫn, đánh giá và các công cụ kiểm tra giúp điều chỉnh tốc độ và cách học của họ; và tiềm lực cho giáo viên đáp ứng nhu cầu hướng dẫn và giới thiệu để đảm bảo sự tiến bộ và thành thạo cho tất cả các học sinh, dành sự lưu tâm cho những học viên yếu hơn.
Những lợi thế này khiến ngày càng nhiều nơi ứng dụng theo phương pháp Blended learning. Blended learning đang nổi lên như một phương pháp chiếm ưu thế trong tương lai. Trước sự phát triển và yều cầu của xã hội, ngày 22/04/2016 bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT về việc quy định Ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng, trong đó đã đề cập đến phương thức đào tạo kết hợp (Blended Learning) nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy và chất lượng giáo dục. Hơn nữa, ngày nay việc dạy và học ngoại ngữ không chỉ là việc trang bị cho học sinh những kiến thức ngữ pháp chắc chắn mà còn tạo cho học sinh khả năng nghe, nói, đọc, và viết tốt… Với sinh viên hệ chất lượng cao, trường Đại học Thương mại đã đưa IELTS vào chương trình đào tạo; vì vậy thời gian học tập trên lớp theo phương pháp truyền thống không thể đáp ứng những tiêu chí này một cách hiệu quả.
Ngoài ra, theo quan sát và đánh giá của nhóm tác giả trong 2 năm qua giảng dạy học phần Basic IELTS, kết quả học tập của sinh viên không được như kỳ vọng một phần do thời lượng trên lớp quá ít và các em không có nhiều cơ hội thực hành các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết. Trước những thực trạng, yêu cầu nêu trên cũng như những hiệu quả từ việc áp dụng mô hình học tập Blended Learning đã tạo động lực cho nghiên cứu này được triển khai. Tổng quan nghiên cứu của đề tài 2. Trong nước “Học tập kết hợp (Blended Learning) để chỉ các mô hình kết hợp giữa hình thức học truyền thống và các giải pháp E-Learning”.
Vì vậy, 2 trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0, việc áp dụng phương pháp giảng dạy Blended Learning này là điều cần thiết và là một hướng đi tích cực để cải thiện chất lượng giảng dạy ở bậc đại học trong thời đại kỉ nguyên số. Từ khoảng những năm 2000 trở về trước, ở Việt Nam có không nhiều tài liệu nghiên cứu, phổ biến về đào tạo trực tuyến. Trong những năm gần đây các hội nghị, hội thảo về CNTT và giáo dục đều có đề cập đến đào tạo trực tuyến và khả năng áp dụng đào tạo trực tuyến vào công cuộc cải cách giáo dục và phát triển đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000, Hội nghị Giáo dục Đại học năm 2001, Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT, ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về Nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT&TT, ICT/rda 9/2004, Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai đào tạo trực tuyến” do Viện Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005,., là những hội thảo khoa học về đào tạo trực tuyến đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Từ đó, các nghiên cứu về dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp từng bước thâm nhập và trở thành xu hướng quan trọng trong nghiên cứu và ứng dụng của khoa học giáo dục tại Việt Nam.
Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Blended Learning trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam như dưới đây. Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Nghiên cứu và triển khai Blended Learning trong đào tạo đại học – Tình huống tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH)” của Ths.Võ Hà Quang Định và Ths. Đặng Thái Thịnh đã phân tích đánh giá kết quả áp dụng Blended Learning tại UEH được thu thập vào tháng 12 năm 2016.
Một số giảng viên UEH đã bắt đầu sử dụng các bài giảng điện tử và áp dụng ngày càng nhiều các công cụ công nghệ thông tin vào việc xây dựng, chuyển tải các bài giảng trên đến sinh viên. Một số công cụ thường được dùng như: xây dựng trang web riêng để cung cấp tài liệu, bài tập cho sinh viên tải về, thông qua blog của Khoa, tạo những group trên mạng xã hội (facebook), sử dụng chức năng Google Drive của tài khoản email UEH để lưu trữ và chia sẻ nội dung, và email là được sử dụng phổ biến nhất. Một số thầy cô còn xây dựng trên đó những công cụ để sinh viên nộp bài tập, diễn đàn để sinh viên trao đổi thông tin về môn 3 học … Cuối cùng, các tác giả đưa ra quy trình và các bước triển khai Blended Learning tại UEH nói riêng và tại các cở sở giáo dục đại học nói chung. Trong một nghiên cứu khác có tiêu đề “Nghiên cứu áp dụng mô hình học tập kết hợp (Blended Learning) tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Thực nghiệm với môn tin học đại cương”, TS.
Trịnh Hoài Sơn tiến hành khảo sát sử dụng phiếu điều tra với 434 sinh viên. Việc thí điểm áp dụng mô hình học tập hỗn hợp đã được nhóm nghiên cứu thực hiện đối với một số lớp, môn tại Khoa Tin học Kinh tế trong 3 năm gần đây: Tin học đại cương, Tin học ứng dụng, Kế toán máy, Hệ thống thông tin quản lý và một số môn học chuyên ngành khác. Xét về loại môn học, môn học thuộc khối kiến thức đại cương với 72% sinh viên ủng hộ trong khi môn học chuyên ngành chỉ có 49.7% sinh viên được khảo sát ủng hộ áp dụng mô hình học tập kết hợp. Cuối cùng, nhóm nghiên cứu trình bày kết quả thống kê đánh giá lợi ích của mô hình học tập kết hợp, đồng thời tìm hiểu về tính khả thi, phương hướng và kiến nghị triển khai áp dụng mô hình học tập kết hợp tại Đại học Kinh tế Quốc dân.
Luận án “Dạy học kết hợp (B-learning) dựa vào phong cách học tập cho sinh viên ngành sư phạm tin học” của tác giả Trần Văn Hưng, với mục tiêu là xây dựng mô hình lí thuyết về dạy học kết hợp (B-learning) dựa trên phong cách học tập nhằm phát triển năng lực người học, đồng thời vận dụng mô hình đó để thiết kế dạy học kết hợp trong đào tạo SV ngành Sư phạm Tin học bậc ĐH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng chuẩn đầu ra của chương trình. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: phong cách học tập, sinh viên thuộc các phong cách học trực quan, thính giác và vận động đều được hưởng lợi như nhau từ sự can thiệp thử nghiệm trong trường hợp thông qua bài học. Từ phản ứng, thái độ, hành vi của SV đối với các khía cạnh khác nhau của B-learning, dễ sử dụng cho môi trường web, môi trường trực tuyến, nội dung, hướng dẫn trực tiếp, đánh giá và phản ứng chung, rõ ràng là SV có phản ứng tích cực với B-learning.