CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 1.1 Khái niệm, phân loại về doanh nghiệp vừa và nhỏ Chưa có một khái niệm nào về DNNVV được sử dụng thống nhất, Trên thực tế, khó có thể áp dụng định nghĩa phổ quát cho các DNNVV do sự khác biệt về doanh nghiệp, lĩnh vực, văn hoá và tình hình phát triển của các nền kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, việc phân loại DNNVV chủ yếu căn cứ vào hai tiêu chí định tính (sự chia tách quyền quản lý và điều hành, phạm vi hoạt động…) và định lượng (số lượng lao động, tổng tài sản, 10 doanh thu…). Theo hướng dẫn ủy ban Châu Âu (EC,2005) để xác minh một DN thuộc loại DNNVV trước hết nó phải thỏa mãn điều kiện được gọi là doanh nghiệp. Các DN vừa là các DN có ít hơn 250 nhân viên với doanh thu hàng năm dưới 50 triệu Euro và tổng tài sản hàng năm ít hơn hoặc bằng 43 triệu Euro.
Các DN nhỏ được định nghĩa là các DN có ít hơn 50 nhân viên và có doanh thu hàng năm hoặc tổng số bảng cân đối kế toán hàng năm không vượt quá 10 triệu Euro. Các DN siêu nhỏ được định nghĩa là các DN có ít hơn 10 nhân viên và có doanh thu hàng năm hoặc tổng số bảng cân đối kế toán hàng năm không vượt quá 2 triệu Euro. Ngưỡng số lượng nhân viên là bắt buộc; Tuy nhiên các DN không phải là bắt buộc đáp ứng đồng thời cả hai ngưỡng doanh thu và ngưỡng tổng số trên bảng cân bằng (EC, 2003). Tại Úc, Cục thống kê Úc (ABS) định nghĩa một DN siêu nhỏ là một DN có dưới 4 nhân viên.
Một DN nhỏ được định nghĩa là một DN kinh doanh tích cực có dưới 19 nhân viên, và một DN vừa như một DN hoạt động kinh doanh có từ 20 đến 199 nhân viên. Tại Canada, Dịch vụ Công và Dịch vụ Chính phủ Canada (PWGSC) xác định các DN vừa và nhỏ là DN có số nhân viên dưới 500. Ngưỡng cho các DN sản xuất nhỏ ít hơn 100 nhân viên và các DN dịch vụ dưới 50 nhân viên (PWGSC, 2011 ). Tại Hàn Quốc, Tập đoàn DN Nhỏ (SBC) của Hàn Quốc định nghĩa SMEs là DN có dưới 300 nhân viên với số vốn từ 8 triệu USD trở xuống cho các DN sản xuất.
Họ phân loại các DN sản xuất siêu nhỏ và nhỏ như những DN sử dụng 10 và 50 nhân viên tương ứng (SBC,2009). Tại Singapore, đã thông qua một định nghĩa mới cho các DN nhỏ có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2011, theo đó một DNNVV được định nghĩa là một công ty có doanh thu hàng năm không vượt quá 100 triệu đô la Singapore hoặc sử dụng không quá 200 công nhân (The Standards, 11 Productivity & Innovation Board Singapore, 2011). Tại Nhật Bản, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) định nghĩa các DNNVV trong bốn lĩnh vực công nghiệp; Sản xuất, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ và một SME Nhật Bản được định nghĩa là một DN có từ 300 người trở xuống và có quy mô vốn 300 triệu yên hoặc ít hơn (EIU, 2010). (Dinuja Perera & Parmod Chand, 2015) Tại Hoa Kỳ (Mỹ) có cách tiếp cận khác để xác định các SME.
Tổ chức quản lý DN nhỏ (Small Business Administration - SBA) đã thiết lập "Tiêu chuẩn Quy mô" cho các DN nhỏ (SBA, 2012). Tiêu chuẩn về kích thước được nêu trong số nhân viên hoặc khoản thu trung bình hàng năm và được thiết lập cho từng ngành công nghiệp mã hóa của ngành công nghiệp Bắc Mỹ (NAICS). Dựa trên các tiêu chí này, SBA đã thiết lập một tiêu chuẩn 500 nhân viên làm việc trong ngành sản xuất và ngưỡng 7 triệu đô la Mỹ khoản thu hàng năm trung bình cho hầu hết các ngành công nghiệp phi sản xuất (SBA, 2012). Định nghĩa của Mỹ đối với các DN nhỏ có vẻ phức tạp về mặt tự nhiên, nhưng các thay đổi về tiêu chuẩn quy mô được giả định là mô tả sự khác biệt trong ngành hơn các định nghĩa khác.
Như vậy, theo quan điểm của IFRS for SME không đề cập đến vấn đề số lượng lao động, cũng như tổng nguồn vốn và doanh thu để đánh giá DNNVV. Tuy nhiên, trên thực tế, các DN không chịu trách nhiệm cộng đồng (không phát hành cổ phiếu và không tham gia thị trường vốn) thường là 12 những DN có quy mô về lao động ít, không không lớn. Các DN không chịu trách nhiệm cộng đồng là các DN : (a) Có các khoản nợ hoặc các công cụ cổ phần được giao dịch trên thị trường công cộng hoặc đang trong quá trình phát hành các công cụ này, để kinh doanh trên thị trường chứng khoán trong nước hoặc nước ngoài hoặc một thị trường tự do (bao gồm thị trường địa phương và khu vực). (b) Nắm giữ tài sản có khả năng ủy thác cho một nhóm lớn bên ngoài là một trong những hoạt động chính của nó.
Hầu hết, các ngân hàng, tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, môi giới chứng khoán /đại lý, các quỹ tương hỗ và các ngân hàng đầu tư sẽ đáp ứng tiêu chí thứ hai này. Tại Việt Nam, Theo luật số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017 của chủ tịch Quốc Hội về Luật hỗ trợ DN vừa và nhỏ, DN vừa và nhỏ bao gồm DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: - Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng - Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng Theo khoản 1, 2, 3, điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP của Thủ tướng Chính Phủ ngày 26/08/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật hỗ trợ DN vừa và nhỏ, tiêu chí xác định DN vừa và nhỏ như sau: - DN siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. - DN siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. 13 - DN nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
- DN nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. - DN vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ, DN nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. - DN vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là DN siêu nhỏ, DN nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ DN vừa và nhỏ có một số đặc điểm như: - Việc điều hành hoạt động kinh doanh ở đa số DNNVV thường do một hay vài người cũng chính là chủ sở hữu của DNNVV. Do đó, DNNVV không có sự chia tách giữa quyền sở hữu và điều hành; - DNNVV thường có quy mô nhỏ, nguồn lực giới hạn cả về nhân lực và tài chính, có khuynh hướng hoạt động trong thị trường nhỏ của địa 14 phương, hoặc trong phạm vi quốc gia nên số lượng khách hàng và nhà cung cấp không lớn, không nhiều nghiệp vụ phức tạp.
Vì thế, các công ty kiểm toán cũng không có nhiều cơ hội để cung cấp các dịch vụ tư vấn mới. - DN nhỏ có sự cạnh tranh gắt gao với các công ty tập đoàn lớn cùng làm dịch vụ với nhau. Bởi vậy các DN nhỏ thường gặp thua thiệt trong việc chiếm lĩnh thị trường đặc biệt ở những khu vực nước ngoài. - Các DN vừa và nhỏ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại chứ không tập trung vào sản xuất và chế biến.
Chủ yếu là các nghành nghề liên quan đến mua bán sản xuất đồ dùng các loại dịch vụ và phân bố hàng tiêu dùng.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam, năm 2022 cả nước có khoảng 800.000 DN , trong đó DN vừa và nhỏ (DNNVV) chiếm trên 98%. Theo Ông Vũ Tuấn Anh - Chủ tịch JCI Việt Nam, Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP, nộp ngân sách nhà nước 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp 33%, giá trị hàng hóa xuất khẩu 30% và thu hút gần 60% lao động. - Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: Ở phần lớn các nền kinh tế, các DN vừa và nhỏ là những nhà thầu phụ cho các DN lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định.
Vì thế, DN vừa và nhỏ được ví là thanh giảm sóc cho nền kinh tế. - Làm cho nền kinh tế năng động: Vì DN vừa và nhỏ có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh và thay đổi phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế. - Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: DN vừa và nhỏ thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh.