Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÔNG TƯỚC TỰ DO 1. Khái niệm và vai trò của các hình phạt chính không tước tự do 1. Khái niệm các hình phạt chính không tước tự do Hình phạt là hình thức chủ yếu của trách nhiệm hình sự và là công cụ pháp lý của Nhà nước để đấu tranh phòng chống tội phạm. Quy định về hình phát được nêu rõ tại Điều 26, BLHS năm 1999, đồng thời kế thừa và phát triển quy định về hình phát được làm rõ hơn tại Điều 30, BLHS năm 2015 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó” [20].
Dựa trên cơ sở các quan niệm về hình phạt đã nêu trong Luận văn, tác giả đưa ra khái niệm khoa học về hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự của Nhà nước do Toà án có thẩm quyền quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự Hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam (được quy định từ Điều 28 đến Điều 40) gồm 7 hình phạt chính và 7 hình phạt bổ sung. Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa. Hình phạt chính bao gồm các biện pháp như: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân và tử hình; Hình phạt chính được vận dụng riêng rẽ chứ không đồng thời áp dụng đối với người phạm tội chỉ áp dụng một trong các hình phạt chính. Hình phạt chính đánh thẳng vào các quyền cơ bản của công dân như quyền tự do, quyền sống… Hình phạt bổ sung bao gồm các biện pháp như: Cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; cấm cư trú; quản chế; cấm cư trú; quản chế; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Trong đó, có 2 hình phạt có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung là phạt tiền và trục xuất. Hệ thống hình phạt của nước ta với nhiều hình phạt khác nhau nên căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, nhằm vào những mục đích khác nhau mà có các cách phân loại hình phạt khác nhau phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam. Điều 28 BLHS năm 1999 đã chia Hệ thống hình phạt đang được áp dụng tại Việt Nam thành hai loại là: hình phạt chính và hình phạt bổ sung [19, tr. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu về sáu loại hình phạt không tước tự do bao gồm: 1) Cảnh cáo; 2) Phạt tiền; 3) Cải tạo không giam giữ; 4) Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; 5) Tước một số quyền công dân; 6) Tịch thu tài sản.
Khi bị áp dụng các loại hình phạt này, người bị kết án bị tước bỏ quyền tự do cư trú ở một số địa phương nhất định (như ở hình phạt cấm cư trú) hoặc bị buộc phải cư trú, làm ăn sinh sống ở một đơn vị hành chính cụ thể (đối với người bị tuyên phạt hình phạt quản chế), và cấm cư trú trên phạm vi toàn lãnh thổ (khi bị áp dụng hình phạt trục xuất). Hình phạt không tước tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự của Nhà nước do Toà án quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật để buộc người bị kết án phải chịu một hoặc một số hậu quả pháp lý bất lợi (nhưng không tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể, quyền tự do cư trú), nhằm cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng và chống tội phạm. Trên cơ sở khái niệm hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS năm 2015, cũng như tính chất của sự tước bỏ, tác giả xin đưa ra khái niệm về hình phạt không tước tự do như sau: “Hình phạt chính không tước tự do là để thực hiện biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định trong BLHS và do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội mà không buộc họ phải cách ly ra khỏi môi trường xã hội bình thường”. Mục đích của hình phạt không tước tự do cũng giống như các hình phạt nói chung được quy định tại điều 31, BLHS năm 2015: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [20] và hướng tới giáo dục người phạm tội nhận ra sai lầm của mình để từ đó ý thức tuân thủ pháp luật, chuẩn mực xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội.
Chính sách pháp luật hình sự là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thống của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật hình sự có hiệu quả, sử dụng văn minh các phương tiện pháp luật để đạt được mục đích của hình phạt, góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo đảm quyền con người. Chính sách pháp luật hình sự là một trong các yếu tố quan trọng tác động đến xu hướng áp dụng pháp luật hình sự. Hình phạt không tước tự do mang đầy đủ những dấu hiệu chung của hình phạt đồng thời có những dấu hiệu riêng biệt, có thể kể ra một số dấu hiệu cơ bản như sau: - Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội. Người bị kết án tự cải tạo với sự giám sát, giúp đỡ và giáo dục của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương và gia đình.
Xu hướng nhân đạo, hướng thiện cũng thể hiện trong nhiều quy định của pháp luật hình sự, cơ sở pháp lý của áp dụng pháp luật hình sự. Khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, các văn bản pháp luật hình sự lúc bấy giờ có xu hướng xử lý nghiêm khắc hành vi phạm tội. Vai trò của các hình phạt chính không tước tự do Việc quy định các hình phạt không tước tự do trong hệ thống hình phạt mang lại nhiều vai trò quan trọng: Thứ nhất, trong xã hội hiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển kéo theo một hệ lụy là các tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp và phong phú. Do đó, việc nhà làm luật quy định các hình phạt không tước tự do trong BLHS nước ta đã góp phần đa dạng hóa hệ thống hình phạt nói riêng và các biện pháp xử lý hình sự nói chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Với nhiều loại hình phạt khác nhau được quy định thì khoảng cách giữa chúng càng nhỏ đi và tính chính xác càng cao. Thứ hai, việc quy định các hình phạt chính không tước tự do trong hệ thống hình phạt của BLHS Việt Nam đã góp phần thực hiện nguyên tắc xử lý có phân biệt và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong chính sách hình sự của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay [19]. Thứ ba, các hình phạt không tước tự do góp phần thể hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của phápluật hình sự nước ta. Đó chính là bản chất nhân đạo rõ nét của các hình phạt không tước tự do trong hệ thống hình phạt nước ta.
Với ưu thế về số lượng 4/7 hình phạt không tước tự do đã thể hiện rõ chính sách nhân đạo trong hệ thống hình phạt của nước ta. Thứ tư, trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của nước ta, việc tổ chức thi hành các bản án phạt tù đang là vấn đề phức tạp như tình trạng nhà tù quá tải, người phạm tội sau khi mãn hạn tù gặp rất nhiều khó khăn (về việc làm, về tâm lý.) để hoà nhập cuộc sống nên lại tái phạm…. Hiệu quả của hình phạt tù đối với những người bị kết án về tội ít nghiêm trọng, tội vô ý. Khái niệm, nguyên tắc và căn cứ áp dụng hình phạt chính không tước tự do 1.
Khái niệm áp dụng các hình phạt chính không tước tự do Hoạt động áp dụng hình phạt là một giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật hình sự và chỉ có Tòa án mới được thực hiện thông qua việc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành đối với người phạm tội theo một trình tự thủ tục đã được pháp luật quy định. Tòa án căn cứ vào kết quả điều tra, kết quả thẩm vấn, tranh tụng để lựa chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong pháp luật hình sự và xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo. Khi thực hiện áp dụng hình phạt, Tòa án cần bảo đảm rằng hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội mà tội phạm đã thực hiện, bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do. Người bị kết án không bị cách ly khỏi xã hội, họ được cải tạo, giáo dục, nên việc áp dụng hình phạt không tước tự do được thực hiện trong môi trường sống và hoạt động với các công dân bình thường khác.
Như vậy, trong phạm vi của luận văn, căn cứ vào nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn có thể nêu một cách khái quát về khái niệm áp dụng hình phạt không tước tự do trong thực tiễn hiện nay như sau: Áp dụng hình phạt không tước tự do là hoạt động của Tòa án buộc người phạm tội phải chịu một trong các hình phạt không tước tự do phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới, cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.