MỞ ĐẦU Để đ nh gi một phục hình (PH) thành công, cần dựa trên nhiều yếu tố như: chức năng, thẩm mỹ, độ lưu giữ, khả năng kháng lực, tư ng hợp sinh h c với môi trường miệng. Trong đó, một yếu tố c ản vô cùng quan tr ng là sự lành mạnh lâu dài của mô nha chu. Mô nha chu được xem là nền tảng để giúp cho bộ răng khỏe mạnh, đạt chức năng và thẩm mỹ. Đối với PH cũng không ngoại lệ, việc đảm bảo mô nha chu khỏe mạnh trước và sau khi PH là điều kiện tiên quyết để PH thành công [28].
Các yếu tố của PH như vị trí đường hoàn tất (ĐHT), độ khít sát bờ mão và hình dạng mão răng sẽ t c động lên mô nha chu và dẫn đến những đ p ứng bất lợi của mô nha chu [31]. Có thể nói rằng đường hoàn tất (ĐHT) là phần quan tr ng nhất của cùi răng, nếu bờ PH không khít sát với ĐHT, tạo khe hở sẽ làm tan xi măng, ảnh hưởng đến sự lưu giữ của PH, đồng thời vị trí này sẽ tích tụ mảng bám thức ăn, vi khuẩn, gây bệnh nha chu và sâu răng, dẫn đến PH thất bại. Bên cạnh đó, vị trí ĐHT PH là yếu tố có ảnh hưởng chính đến sức khỏe mô nha chu, do đó cần được xem xét cẩn thận. Ảnh hưởng của vị trí ĐHT PH đến sự lành mạnh của mô nha chu là một vấn đề còn nhiều tranh cãi.
Một số nghiên cứu cho rằng vị trí ĐHT trên nướu là thuận lợi nhất cho sức khỏe mô nha chu và ĐHT dưới nướu gây ảnh hưởng không tốt đến mô nha chu quanh PH như gây viêm, sưng hay chảy m u nướu [25], [34]. Tuy nhiên, có những nghiên cứu cho thấy PH với ĐHT dưới nướu vẫn đảm bảo sự lành mạnh cho mô nha chu [35], [51]. Do vậy, cần có thêm những nghiên cứu về ảnh hưởng của vị trí ĐHT PH trong khe nướu đến mô nha chu để có thêm hướng dẫn cho thực hành lâm sàng. Sức khỏe mô nha chu có thể được đ nh gi bằng cách theo dõi các chỉ số nha chu lâm sàng như chỉ số mảng bám (PI), chỉ số nướu (GI), chảy m u khi thăm kh m (BoP), độ sâu thăm dò (PD) và độ tụt nướu.
Những thông số lâm sàng này là tiêu chuẩn để chẩn đo n và theo dõi bệnh nha chu, có giá trị trong cả lâm sàng và nghiên. Tuy nhiên, việc đ nh gi qua c c thông số lâm sàng chỉ cho biết những thiệt hại về mô nha chu cho đến hiện tại, nhưng không iết được diễn tiến của bệnh và không thể x c định tình trạng viêm nhiễm sớm trước khi có dấu hiệu trên lâm sàng. Gần đây, nhờ sự phát triển của các kỹ thuật xét nghiệm, người ta đã tìm được nhiều dấu ấn sinh h c giúp phát hiện, chẩn đo n sớm và dự đo n tiến triển của bệnh về mô nha chu quanh PH trên răng cũng như trên implant trước khi biểu hiện trên lâm sàng cũng như X quang [12], [38]. Để đ nh gi tình trạng nướu trước khi xuất hiện tình trạng viêm rõ ràng về mặt lâm sàng, có thể theo dõi những thay đổi về mức độ viêm trong dịch khe nướu (DKN) ở mức độ phân tử [20].
Trong các cytokine có trong DKN, interleukin-1β (IL-1β) là một yếu tố quan tr ng để chẩn đo n viêm nướu và viêm nha chu. Đã có nhiều nghiên cứu xác nhận mối liên quan này [8], [14], [15], [42]. Ngoài ra, IL-1β có tác dụng dị hóa của nó lớn h n IL-1α và nhiều nghiên cứu cho thấy IL-1β hoạt động mạnh h n IL-1α trong cùng một điều kiện như nhau [39]. Các nghiên cứu trên thế giới trước đây về ảnh hưởng của vị trí ĐHT mão răng đến tình trạng mô nha chu chủ yếu là qua đ nh gi c c chỉ số nha chu lâm sàng [29], [35], [50].
Có một số nghiên cứu ngoài nước đã đ nh giá tình trạng mô nha chu quanh PH và nồng độ IL-1β trong dịch khe nướu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào ở trong và ngoài nước đ nh gi ảnh hưởng của các vị trí ĐHT mão răng kh c nhau lên cả chỉ số nha chu lâm sàng và yếu tố IL-1β [3], [25], [33], [51]. o đó, chúng tôi muốn thực hiện đề tài này để trả lời câu hỏi nghiên cứu: Có hay không sự khác biệt về các chỉ số nha chu lâm sàng và nồng độ IL-1β ở c c răng được phục hình bằng mão răng toàn sứ với các vị trí ĐHT kh c nhau? Mục tiêu tổng quát: Đ nh gi ảnh hưởng của vị trí đường hoàn tất mão răng toàn sứ lên tình trạng mô nha chu xung quanh PH dựa trên việc đ nh gi c c chỉ số nha chu lâm sàng và nồng độ IL-1β trong DKN. Mục tiêu cụ thể:. Đ nh gi c c chỉ số nha chu lâm sàng (PI, GI, PD, oP, độ tụt nướu) của 2 nhóm mão toàn sứ có đường hoàn tất ngang nướu và dưới nướu tại c c thời điểm ngày 1 (T0), ngày 45 (T1) và ngày 90 (T2) sau khi gắn mão răng.
Đ nh gi nồng độ IL-1β trong DKN quanh PH của 2 nhóm mão toàn sứ có đường hoàn tất ngang nướu và dưới nướu tại các thời điểm T0, T1 và T2 sau khi gắn mão răng. X c định mối tư ng quan giữa nồng độ interleukin-1β trong DKN với c c chỉ số nha chu (PI, GI, PD, BoP và độ tụt nướu) của 2 nhóm mão toàn sứ có đường hoàn tất ngang nướu và dưới nướu tại c c thời điểm T0, T1 và T2 sau khi gắn mão răng. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phục hình mão răng Phân loại theo vật liệu gồm 3 loại chính là: Mão kim loại (KL) toàn diện, mão sứ-KL và mão toàn sứ.
Mão KL toàn diện là loại PH được chế tạo bằng các loại hợp kim như: niken- crom, crom-coban, hợp kim của titan hay các kim loại quý. Với c c đặc tính c h c và vật lý tốt, từ lâu loại mão này đã được sử dụng để bao b c và phục hồi chức năng ăn nhai cho c c răng ị hư hại do sâu, vỡ lớn hay răng chữa tủy. Tuy nhiên, PH KL toàn diện có hạn chế về mặt thẩm mỹ, ngoài ra có thể gây ảnh hưởng đến mô nha chu do hiện tượng điện hóa h c của kim loại, đổi màu viền nướu quanh PH, v. Mão sứ-KL là loại mão kết hợp giữa sườn KL bên trong và sứ phủ bên ngoài, đảm bảo cả tính c h c và thẩm mỹ.
Trong một thời gian dài, mão sứ-KL được coi là tiêu chuẩn vàng, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định về mặt thẩm mỹ và tính tư ng hợp sinh h c [10]. Mão toàn sứ là loại PH không kim loại, làm hoàn toàn bằng vật liệu sứ. Những cải tiến về chất lượng đã cho vật liệu sứ nhiều ưu điểm vượt trội so với PH sứ-kim loại như: tính thẩm mỹ, tính tr và khả năng tư ng hợp sinh h c cao. Sứ nha khoa 1.
Định nghĩa Sứ nha khoa là các cấu trúc vô c , không kim loại bao gồm chủ yếu là các hợp chất của oxy với một hoặc nhiều nguyên tố kim loại hay bán kim loại (Al-nhôm, B- boron, Ca-calci, Ce-ceri, Li-lithi, Mg-magnesi, P-phosphor, K-kali, Si-silic, Na- natri, Ti-titani, và Zr-zirconi) [47]. Năm 2012, Hiệp hội nha khoa Hoa Kỳ định nghĩa: “Sứ nha khoa là các hợp chất vô c , không kim loại, không phải nhựa, được xử lý ở nhiệt độ cao (600°C trở lên) và được ép, làm nhẵn hoặc phay cắt, bao gồm sứ, thủy tinh và sứ thủy tinh” [5]. 5 Năm 2013, Hiệp hội nha khoa Hoa Kỳ thay đổi định nghĩa: “Sứ nha khoa là vật liệu được ép, nung, làm nhẵn hoặc phay cắt chứa chủ yếu là các hợp chất vô c chịu nhiệt bao gồm porcelain, thủy tinh, sứ và sứ thủy tinh” [5]. Phân loại Có nhiều yếu tố dùng để phân loại sứ nha khoa như phân loại theo thành phần, kỹ thuật chế tác, ứng dụng hay chỉ định, nhiệt độ nung, cấu trúc vi thể, độ trong, độ đề kháng nứt gãy và độ mài mòn [49].
Santos (2015) phân loại sứ theo thành phần gồm 3 loại: Sứ có thành phần thủy tinh là chủ yếu, sứ có thành phần thủy tinh chứa hạt độn, sứ đa tinh thể không chứa thủy tinh. Theo kỹ thuật chế tác sứ gồm các loại: thiêu kết, ép nóng, đúc trượt và CAD/CAM. Phân loại này có thêm loại sứ mới là sứ có khung nhựa được thêm vào hệ thống sứ gần đây. Năm 2012, hệ thống phân loại sứ nha khoa do Hiệp hội nha khoa Hoa Kỳ đưa ra không phân loại vật liệu có khung nhựa là sứ.
Tuy nhiên, hệ thống phân loại mới năm 2013 đã đưa loại vật liệu lai này vào phân loại sứ do có sự thay đổi về định nghĩa vật liệu sứ. Tính chất của sứ nha khoa - Khả năng tư ng hợp sinh h c tốt. - Có tính tr về mặt sinh h c. - Tính thẩm mỹ cao.
- Có đặc tính quang h c thuận lợi cho thẩm mỹ (độ trong mờ của sứ). - Màu sắc tự nhiên và ổn định. - Độ dẫn nhiệt thấp. - Độ bền uốn và độ bền kéo tối ưu.
Một số loại sứ thƣờng dùng a) Sứ feldspathic Là loại sứ nha khoa truyền thống được làm từ đ trường thạch, bao gồm thành phần chủ yếu là trường thạch (KAlSi3O8), thạch anh (SiO2) và cao lanh (Al2O3- Hình 1.1: Sứ VITA VM 9 (Nguồn: https://www.vn/home/products/veneering-material/vita-vm-9. Thạch anh hay oxit silic (SiO2) (55-65%) là thành phần khung thủy tinh chịu trách nhiệm về độ trong mờ của PH, oxit nhôm (Al2O3) (20-25%) được thêm vào để gia cố. Cao lanh là một loại nhôm silicat ngậm nước được sử dụng với số lượng hạn chế (4%) vì nó có đặc tính mờ đục, không giống tính trong mờ của răng tự nhiên, có tác dụng liên kết các hạt sứ với nhau [5]. Tính thẩm mỹ cao nhưng tính c h c thấp, dễ nứt gãy, độ bền uốn từ 60 MPa đến 70 MPa.
Thường dùng làm sứ phủ cho sườn sứ hoặc kim loại. b) Sứ zirconia Sứ zirconia được đặc trưng ởi sự dày đặc của các tinh thể đồng nhất oxit zirconi (ZrO2-zirconia), và có độ dẫn nhiệt thấp, khả năng ăn mòn thấp, độ cản quang tốt, tính tư ng thích sinh h c cao, độ bám dính bề mặt của vi khuẩn thấp, và tính chất quang h c thuận lợi. So với sứ alumina, sứ zirconia có độ bền uốn cao h n (900 MPa đến 1200 MPa). Đây là loại sứ đa tinh thể được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.2: Phôi sứ zirconia VITA YZ XT (Nguồn: https://www.vn/home/products/veneering-material/vita-vm-9.