Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo 1. Nguồn gốc Đây là loại cỏ thuộc bộ đậu, có nguồn gốc từ châu Mỹ La tinh.
Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawaii, và một số nước châu Phi như Kenya, Uganda, Nigieria. Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ, từ Brasil nhập vào Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến. Đây là loại cây thức ăn gia súc được phát triển đáng kể ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công Gô, Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây cỏ Stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia.
Các giống Stylo đang gieo trồng: Stylosanthes guianensis (common Stylo): cây lâu năm Stylosanthes hamata (Caribbcan Stylo): cây hàng năm Stylosanthes scabra (Shrubby Stylo): cây lâu năm Stylosanthes humilis (Townsville Stylo): cây hàng năm 1. Đặc điểm sinh vật học của cỏ Stylo Stylo là cỏ lâu năm, có loại hàng năm, thân thô, đứng hoặc bò, cao tới 1m, ở khí hậu ẩm có thể tới 1,5m. Có khả năng ra rễ ở thân, khi già thường chuyển màu xanh sẫm hoặc tím. Bộ rễ ăn sâu dưới đất đến 70 cm.
Rễ phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng nên có khả năng chịu hạn, chịu úng ngập, chống xói mòn rất tốt. Lá chẻ ba, dài hẹp và nhọn, đầu tày; có lông, có nhiều hoặc ít lông mềm. Lá dài 2 - 3cm rộng 5 - 10mm, tỷ lệ lá/thân = 5/7. Loài nhập nội không có vòi cuốn.
Những chồi thẳng có đốt ngắn, lá nhiều hơn cành ngang, hoa hình bông cuốn không sát nhau, thường có 70 - 1200 chùm, trên mỗi chùm có 5 - 9 hoa. Qủa đậu không có cuống, gồm 7 - 8 hạt có vỏ cứng, màu xám đen, trọng lượng 1000 hạt khoảng 5 - 6 gam. Cây non mới mọc từ hạt phát triển chậm, dễ rụng lá và bị sâu hại trong 3 - 4 tháng đầu sau khi gieo. Nếu gieo vào cuối mùa khô thì sau khi gieo cây non phát triển nhanh, 5 - 6 tháng cây cao 1m hoặc hơn.
n 4 Cỏ Stylo là loại cây bộ đậu thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới. Là cây có khả năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, yêu cầu lượng mưa từ 1500 - 2500mm. Cỏ có thể sống được ở những vùng có lượng mưa trung bình khoảng 890 mm. Tuy nhiên, với lượng mưa 650mm cây vẫn có thể sống được nhưng sinh trưởng rất kém.
Độ ẩm không khí thích hợp là 70 - 80%. Cỏ Stylo cũng có thể chịu được ngập tạm thời, ở những nơi quá ẩm năng suất cỏ cũng bị giảm. Cỏ Stylo phát triển tốt khi nhiệt độ không khí trong khoảng 20 - 350C. Nhiệt độ thích hợp cho cỏ Stylo sinh trưởng phát triển là 15,50C.
Khi nhiệt độ dưới 50C và trên 400C cây phát triển kém. Khi thiếu ánh sáng cỏ Stylo bị giảm năng suất. Cỏ Stylo có thể mọc được trên nhiều loại đất khác nhau: chua nghèo dinh dưỡng và có thể trồng xen với các cây ăn quả, chè, cà phê. Cũng như các loại cây bộ đậu khác, cỏ Stylo là nguồn thức ăn tươi xanh giầu đạm để bổ sung và nâng cao chất lượng khẩu phần thức ăn cho gia súc nhai lại.
Cỏ Stylo có khả năng thích ứng rộng và dễ nhân giống, có thể vừa trồng bằng hạt, vừa trồng bằng cành giâm. Cỏ Stylo phù hợp với chân ruộng cao và là loại cây chịu được khô hạn, không chịu được đất bị úng ngập. Đây là loại cỏ có khả năng chịu bóng kém, vì vậy không nên trồng dưới tán các cây khác. Cỏ này có thể thích nghi với nhiều loại đất.
Nó có thể phát triển được trên đất axít và có khả năng chịu úng tương đối tốt. Cỏ có khả năng chịu giẫm đạp nên có thể dùng để chăn thả tuy nhiên chỉ ở mức chăn thả vừa phải, thường thì đậu Stylo được gieo xen với cỏ Ghinê hay Pangola để chăn thả [45]. Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay cả ở vùng đất đồi cao. Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn.
Năng suất xanh đạt 40 - 50 tấn/ha/năm. Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm). Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24%, đạm thô 17 - 18%, xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10%, mỡ 1,55%. Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và Cs) [36].
Bột cỏ - bột lá là một nguồn thức ăn cho vật nuôi 1. Nguồn thực vật có thể sản xuất bột lá Trong tự nhiên, nguồn thực vật để sản xuất bột cho gia súc, gia cầm rất nhiều như: lá sắn, lá Keo giậu, cỏ Stylo, bèo hoa dâu, lá và hạt cây so đũa, lá mắm, lá cây chè đại, rau cỏ…Thức ăn gia cầm, ngoài lượng ngô vàng có sẵn trong công thức, thường cần có thêm nguồn cung cấp sắc tố để làm mượt lông, vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng. Tại các nước ôn đới sử dụng nguồn bột cỏ chế biến từ cỏ alfalfa (Medicago sativa) và một số cây họ đậu khác. Alfalfa là loại cỏ họ đậu (Leguminosacea), có hàm lượng caroten cao, khoảng 270 - 300 mg caroten/kg bột cỏ, hàm lượng protein thô 17% hoặc 20%, có mùi thơm và chứa nhiều vi khoáng, vitamin.
Ở các nước nhiệt đới, bột cỏ thường được chế biến từ các nguồn lá xanh khác như bột lá bình linh (Leucaena leucocephala), cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis). Cỏ Stylo: Cỏ Stylo là cây họ đậu, 1 kg bột cỏ Stylo có 96 g đạm tiêu hóa, tương đương 0,64 đơn vị thức ăn, dùng nuôi lợn rất tốt không kém cám gạo. Bèo hoa dâu: Bèo hoa dâu là cây phân xanh có đến 28 - 30% Protein trong vật chất khô, trên 3% chất béo, 10,5% chất khoáng, 6,5% tinh bột đường, còn nhiều vitamin B12, vitamin A rất cần cho gia cầm. Lá sắn: Lá sắn là nguồn nguyên liệu phong phú ở Việt Nam, có hàm lượng chất dinh dưỡng tương đối cao, giá trị protein thô chiếm 21%, chất béo 5,5%, xơ thô 21%.
Lá Keo giậu: Cây Keo dậu phát triển ở hầu khắp các vùng trên nhiều loại đất khác nhau. Lượng Protein thô trong lá Keo dậu khá cao 270 - 280g/kg chất khô, tỷ lệ xơ thấp 155g/kg chất khô, nên lá Keo dậu có thể dùng làm thức ăn bổ sung protein, vitamin cho gia súc và gia cầm [42]. Cây so đũa: Là loại cây họ đậu, trồng ở nhiều nơi, hạt và lá so đũa có tỷ lệ protein cao và nhiều vitamin. Cây lá mắm: Cây mắm mọc ở vùng nước mặn, nước lợ ven biển, nhất là ở các tỉnh Nam Trung bộ và miền Nam.
n 6 Cây cỏ VA06: VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm, và cá trắm cỏ. Cỏ Alfalfa: Cỏ Alfalfa hay Cỏ Linh Lăng còn có tên là Mục Túc Braxin (tên khoa học là Lucern) là cây họ đậu thân thảo, có giá trị dinh dưỡng rất cao, làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản,.được thế giới rất quan tâm nghiên cứu trên 50 nước. Cây chè đại Trichanthera Gigantea: Cây Trichanthera có nguồn gốc ở Nam Mỹ, trồng bằng hom đạt tỷ lệ sống 90% - 95%. Cây phát triển vào mùa mưa, không kén đất, có kháng thể cao chống được sâu bệnh và không bị cỏ dại lấn át.
Ngoài cung cấp dinh dưỡng, lá cây còn có tác dụng phòng chống bệnh đường ruột cho vật nuôi. Theo Nguyễn Đức Trân và Cs [10] cho biết: Ở vùng núi, có thể lấy lá và cả cành non các loại cây không độc, không có chất chát (trâu bò thường ăn) để phơi khô, dự trữ dành cho mùa đông hiếm rau cỏ. Giá trị dinh dưỡng của bột lá, bột cỏ đối với vật nuôi Trong phát triển chăn nuôi, việc chọn giải quyết nguồn thức ăn để đảm bảo năng suất, chất lượng thịt, trứng và giảm giá thành sản xuất bằng cách tìm ra những giống cây bổ sung nguồn thức ăn mới phù hợp với điều kiện địa phương là vấn đề rất cần thiết. Ngày nay, ngay ở các nước phát triển, bột cỏ vẫn là thành phần không thể thiếu trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm.
Vì bột cỏ cung cấp nhiều vitamin tự nhiên, đặc biệt là tiền vitamin A (caroten) và sắc tố vàng Xanthophyll. Vitamin E, C và caroten là những chất chống oxi hoá, ngăn cản tích trữ cholesterol trong máu. Ngoài ra, lá xanh còn chứa nhiều chất quinol và phenol, là những chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho người và động vật. Chính vì vậy, sử dụng bột cỏ làm thức ăn chăn nuôi được các nước trên thế giới rất quan tâm (Nguyễn Ngọc Nông, 1999).
Theo Nguyễn Đức Trân và Cs [10], cỏ khô nghiền nhỏ thành bột dùng nuôi n 7 lợn và gia cầm rất tốt, nhất là để nuôi súc vật non, vì trong bột cỏ khô có nhiều chất đạm, nhiều sắc tố, tiền vitamin A, vitamin D2 và Canxi. Bột thân lá đậu, lạc, điền thanh, Keo dậu, bèo hoa dâu,. là những loại tốt, vì có chứa nhiều đạm nên khi hỗn hợp các loại thức ăn tinh khác để nuôi lợn, thì giảm được thức ăn tinh. Thức ăn gia cầm, ngoài lượng bắp vàng có sẵn trong công thức, thường cần có thêm nguồn cung sắc tố để làm vàng da, lòng đỏ trứng theo thị hiếu người tiêu dùng.
Các loại bột lá, bột cỏ thường được dùng trong thức ăn gà với mức 3 - 4% để vừa cung cấp caroten, vừa cung cấp sắc tố để da, mỏ và lòng đỏ trứng có màu vàng đẹp mắt. Bột thực vật có giá trị rất tốt đối với vật nuôi, nó có giá trị dinh dưỡng cao không những chứa tỷ lệ protein cao (đặc biệt là cây họ đậu), mà còn chứa nhiều Vitamin nhóm B, vitamin E và tiền vitamin D, A (carotenoic). Phối hợp khẩu phần ăn của vật nuôi với bột lá, bột cỏ làm tăng chất lượng sản phẩm, tăng tính chất thịt, sữa, trứng…làm tăng màu sắc của sản phẩm (Ash A.J và Chen Chin Peng, 2000) [53]. Thực tế cho thấy: gà ăn bèo hoa dâu tăng tỷ lệ đẻ, ấp nở, giảm chi phí thức ăn, màu lòng đỏ trứng đậm hơn so với thí nghiệm đối chứng.