Tổng quan nghiên cứu

Ngành chăn nuôi dê tại Việt Nam ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn 2014 - 2019, với tổng đàn tăng từ 1.275.000 con năm 2014 lên mức 3.612.000 con năm 2019, tương ứng tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt từ 4,99% đến 26,49%. Riêng 6 tháng đầu năm 2020, tổng đàn cả nước đạt 2.198.000 con. Sự phát triển mạnh mẽ này xuất phát từ đặc tính vốn đầu tư ban đầu thấp, sức đề kháng cao, khả năng sinh sản nhanh và giá trị thương phẩm cao của thịt dê. Tuy nhiên, trước áp lực suy giảm diện tích bãi chăn thả do các chính sách giao đất, giao rừng và mở rộng đất canh tác, phương thức chăn thả quảng canh truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế. Người chăn nuôi buộc phải chuyển đổi sang hình thức nuôi nhốt hoàn toàn hoặc bán chăn thả. Thực tế sản xuất cho thấy, người dân chủ yếu bổ sung thức ăn tinh đơn thuần là bột ngô, dẫn đến tình trạng mất cân đối dinh dưỡng nghiêm trọng, dê tăng trọng chậm và hiệu quả kinh tế thấp.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định định lượng ảnh hưởng của việc thay thế bột ngô bằng các mức thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh dạng viên đến khả năng sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của dê đực lai giai đoạn 6 - 10 tháng tuổi. Khảo nghiệm được tiến hành trong thời gian 90 ngày (từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2019) tại Trang trại TVT, xã Lương Thiện, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang phối hợp cùng Viện Khoa học sự sống - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học giúp nâng khối lượng xuất chuồng của dê từ mức 17,72 kg lên 20,25 - 20,57 kg, tăng tốc độ tăng khối lượng bình quân từ 55,19 g/con/ngày lên 84,44 - 87,78 g/con/ngày, đồng thời bảo đảm tỷ lệ sống đạt 100% trong điều kiện nuôi nhốt vụ đông tại miền núi phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng sinh học phát triển gia súc và lý thuyết dinh dưỡng của động vật nhai lại:

Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn và không đồng đều: Quá trình phát triển của gia súc diễn ra theo từng thời kỳ nối tiếp với tốc độ tích lũy mô khác nhau. Giai đoạn 6 - 10 tháng tuổi là thời kỳ vỗ béo quan trọng sau cai sữa, khi cường độ tích lũy protein và phát triển cơ bắp chiếm ưu thế so với giai đoạn trưởng thành sau này.

Lý thuyết chuyển hóa dinh dưỡng dạ cỏ: Hệ vi sinh vật dạ cỏ ở động vật nhai lại đòi hỏi sự phối hợp cân đối giữa nguồn năng lượng lên men và protein thô để tối ưu hóa quá trình tổng hợp protein vi sinh vật. Việc chỉ sử dụng bột ngô đơn thuần dễ gây mất cân đối áp suất thẩm thấu và giảm pH dạ cỏ, trong khi thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cung cấp đầy đủ axit amin, khoáng và vitamin thiết yếu.

Hiện tượng sinh trưởng bù: Khi chuyển từ điều kiện chăn thả tự do nghèo dinh dưỡng sang chế độ nuôi nhốt thâm canh với khẩu phần đầy đủ, cơ thể dê sẽ kích hoạt khả năng tăng trọng bù vượt trội trong những tuần đầu tiên.

Các khái niệm then chốt bao gồm: Sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể đo tại các thời điểm nhất định, tính bằng kg/con), Sinh trưởng tuyệt đối (tốc độ tăng khối lượng trung bình ngày đêm, tính bằng g/con/ngày), Sinh trưởng tương đối (tỷ lệ phần trăm tăng khối lượng giữa hai thời điểm khảo sát), và Hệ thống chỉ số cấu tạo thể hình gồm dài thân chéo, cao vây, vòng ngực, vòng ống.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng cỡ mẫu gồm 18 dê đực lai (1/8 Bách Thảo x 7/8 Cỏ) có độ tuổi từ 6 đến 10 tháng, khối lượng ban đầu đồng đều từ 11 đến 15 kg (trung bình dao động từ 12,65 đến 12,75 kg/con). Phương pháp chọn mẫu phân lô ngẫu nhiên hoàn chỉnh được áp dụng để chia đàn dê thành 3 lô thí nghiệm tương đồng (6 con/lô), nuôi nhốt trong chuồng sàn nhựa hợp vệ sinh:

Lô đối chứng: Cỏ voi thu cắt tự do kết hợp 300 g bột ngô/con/ngày. Lô thí nghiệm 1: Cỏ voi thu cắt tự do kết hợp 300 g thức ăn hỗn hợp viên/con/ngày. Lô thí nghiệm 2: Cỏ voi thu cắt tự do kết hợp 350 g thức ăn hỗn hợp viên/con/ngày.

Thức ăn hỗn hợp viên tự phối trộn gồm cám gạo, bột ngô, đậu tương rang, premix khoáng và vitamin, đạt 89,36% vật chất khô, 17,03% protein thô và 3.422,90 kcal/kg năng lượng thô. Cỏ voi thu cắt ở độ tuổi 45 - 50 ngày đạt 18,95% vật chất khô, 1,75% protein thô và 722,79 kcal/kg năng lượng thô. Các chỉ tiêu hóa học được phân tích theo tiêu chuẩn quốc gia: protein thô bằng phương pháp Kjeldahl (TCVN 8133-1:2009), lipid thô qua Soxhlet (TCVN 4331:2007), xơ thô qua phương pháp Henneberg - Stoman (TCVN 4329:2007). Dữ liệu được thu thập định kỳ 30 ngày/lần bằng cân đồng hồ 100 kg trước giờ ăn sáng và hệ thống thước đo chuyên dụng đạt độ chính xác 99,5%.

Toàn bộ số liệu được xử lý bằng phân tích phương sai ANOVA một nhân tố thông qua mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) trên phần mềm Minitab 18, so sánh bắt cặp giá trị trung bình bằng phép thử Tukey ở mức ý nghĩa thống kê α = 0,05. Phương pháp này giúp kiểm soát tối đa sai số ngẫu nhiên giữa các cá thể và kiểm chứng chính xác sự sai khác giữa các nghiệm thức.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo nghiệm thực chứng kéo dài 90 ngày mang lại bốn phát hiện then chốt về khả năng sinh trưởng của dê thịt:

Tỷ lệ nuôi sống đạt mức tuyệt đối 100% ở cả 3 lô: Trong điều kiện thời tiết mùa đông biến đổi khắc nghiệt tại Tuyên Quang, việc nuôi nhốt chuồng sàn và quản lý dinh dưỡng chặt chẽ giúp đàn dê duy trì sức khỏe ổn định, không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm hay tiêu chảy.

Khối lượng xuất chuồng và sinh trưởng tích lũy tăng vượt bậc: Khối lượng kết thúc của dê ở lô thí nghiệm 1 đạt 20,25 kg/con và lô thí nghiệm 2 đạt 20,57 kg/con, cao hơn rõ rệt so với lô đối chứng chỉ đạt 17,72 kg/con. Tổng mức tăng khối lượng sau 3 tháng của lô thí nghiệm 1 là 7,60 kg/con (2,53 kg/tháng) và lô thí nghiệm 2 là 7,90 kg/con (2,63 kg/tháng), cao hơn lô đối chứng đạt 4,97 kg/con (1,66 kg/tháng) lần lượt là 52,92% và 58,95%.

Sinh trưởng tuyệt đối tăng trưởng vượt trội: Tăng trọng ngày của dê ăn thức ăn hỗn hợp ở lô thí nghiệm 1 đạt 84,44 g/con/ngày và lô thí nghiệm 2 đạt 87,78 g/con/ngày, cao hơn có ý nghĩa thống kê (P = 0,001) so với mức 55,19 g/con/ngày của lô đối chứng. Sự bứt phá mạnh nhất diễn ra ở giai đoạn tháng thứ 2 và thứ 3, khi tốc độ tăng trọng của nhóm thí nghiệm đạt 73,89 - 90,56 g/con/ngày, so với 50,56 - 55,00 g/con/ngày của đối chứng.

Phát triển vượt trội về các chiều đo cơ thể nhưng giữ vững cấu trúc xương: Sau 90 ngày, mức tăng vòng ngực ở lô thí nghiệm 1 và 2 đạt 12,00 - 12,33 cm (đối chứng chỉ tăng 7,17 cm); dài thân chéo tăng 9,33 cm (đối chứng tăng 5,33 cm); cao vây tăng 7,33 - 8,00 cm (đối chứng tăng 4,67 cm). Ngược lại, kích thước vòng ống giữa 3 lô chỉ tăng từ 2,25 cm đến 3,00 cm và không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê (P > 0,05).

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về sinh trưởng của dê ở các lô thí nghiệm bắt nguồn từ tính ưu việt của thức ăn hỗn hợp viên. Khẩu phần có hàm lượng protein thô 17,03% và năng lượng trao đổi cao giúp dạ cỏ duy trì hệ vi sinh vật ổn định, thúc đẩy quá trình hấp thu dinh dưỡng và tăng sinh mô cơ nạc. Trong khi đó, việc chỉ bổ sung bột ngô (chủ yếu là tinh bột nghèo đạm) ở lô đối chứng khiến dê thiếu hụt axit amin để xây dựng cơ bắp.

So sánh với các nghiên cứu trước đây, tốc độ sinh trưởng của dê lai ăn thức ăn hỗn hợp (84,44 - 87,78 g/ngày) vượt xa dê Cỏ thuần nuôi tại Ninh Bình (50,17 g/ngày theo công bố của các nhà nghiên cứu năm 2010) và dê địa phương tại Định Hóa - Thái Nguyên (43,58 - 44,89 g/ngày năm 2019). Kết quả này tiệm cận năng suất của dê lai Boer x Bách Thảo giai đoạn 9 - 12 tháng tuổi (84,50 g/ngày).

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường cong sinh trưởng chữ S đối với sinh trưởng tích lũy và dạng parabol đối với sinh trưởng tuyệt đối qua các mốc thời gian 30, 60 và 90 ngày. Đáng chú ý, việc tăng lượng thức ăn hỗn hợp từ 300 g/ngày (lô thí nghiệm 1) lên 350 g/ngày (lô thí nghiệm 2) chỉ làm tăng tốc độ sinh trưởng thêm 3,34 g/ngày và không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Điều này khẳng định mức 300 g thức ăn hỗn hợp viên/ngày là ngưỡng tối ưu sinh học, vừa khai thác tối đa tiềm năng di truyền của giống dê lai 1/8 Bách Thảo x 7/8 Cỏ, vừa tránh lãng phí chi phí thức ăn tinh. Việc kích thước vòng ống không đổi chứng minh thức ăn hỗn hợp tác động chủ yếu vào việc phát triển cơ bắp, nở dày lồng ngực và dài thân thịt chứ không làm biến đổi khung xương cơ bản.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi dê thịt:

Áp dụng định mức khẩu phần 300 g thức ăn hỗn hợp viên/con/ngày kết hợp cỏ voi xanh thu cắt tự do (45 - 50 ngày tuổi) cho toàn bộ chu kỳ nuôi vỗ béo dê đực 6 - 10 tháng tuổi. Mục tiêu duy trì tốc độ tăng trọng 84 - 85 g/con/ngày, đưa khối lượng xuất chuồng đạt trên 20 kg/con sau 90 ngày. Chủ thể thực hiện: Chủ trang trại và hộ chăn nuôi dê thương phẩm; Thời gian: Áp dụng liên tục trong các đợt vỗ béo.

Tự phối trộn và ép viên thức ăn tinh tại chỗ theo công thức đạt 17% protein thô và năng lượng thô 3.400 kcal/kg (tận dụng cám gạo, bột ngô, bột đậu tương rang và 1% premix khoáng - vitamin). Mục tiêu cắt giảm 15 - 20% chi phí mua thức ăn công nghiệp đóng bao sẵn trên thị trường. Chủ thể thực hiện: Các hợp tác xã và hộ chăn nuôi quy mô từ 30 con trở lên; Thời gian: Hoàn thiện quy trình phối trộn trong 3 tháng đầu triển khai.

Cải tạo hệ thống chuồng trại sang mô hình chuồng sàn nhựa hoặc sàn gỗ cách mặt đất 0,7 - 1,0 m, thiết kế các ô nuôi riêng biệt cho từng nhóm dê cùng độ tuổi, bảo đảm diện tích sàn 1,2 - 1,5 m²/con. Mục tiêu loại bỏ hoàn toàn nguy cơ nhiễm giun sán từ đất ẩm và kiểm soát 100% tỷ lệ nuôi sống. Chủ thể thực hiện: Người chăn nuôi phối hợp cùng cán bộ khuyến nông cơ sở; Thời gian: Thực hiện trước khi vào đợt nuôi mới.

Xây dựng quy trình thú y phòng dịch chủ động, bắt buộc tẩy ký sinh trùng nội ngoại khoa bằng thuốc chuyên dụng trước khi bước vào giai đoạn vỗ béo 7 ngày, đồng thời bổ sung đá liếm khoáng tự do tại chuồng. Chủ thể thực hiện: Cán bộ thú y xã và chủ hộ chăn nuôi; Thời gian: Thực hiện định kỳ vào đầu mỗi chu kỳ nuôi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Tài liệu nghiên cứu này mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:

Chủ trang trại và hộ chăn nuôi dê thương phẩm: Cung cấp công thức khẩu phần chuẩn xác (300 g cám viên/ngày) để rút ngắn thời gian nuôi từ 5 tháng xuống 3 tháng, tăng sản lượng thịt thêm 2,63 kg/con/tháng so với tập quán cũ, nâng cao biên lợi nhuận ròng trên mỗi đầu dê xuất chuồng.

Cán bộ khuyến nông và kỹ sư chăn nuôi địa phương: Sử dụng các số liệu thực chứng để xây dựng tài liệu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nuôi nhốt thâm canh dê thịt cho các vùng trung du, miền núi phía Bắc, giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt đồng bãi chăn thả.

Doanh nghiệp và cơ sở sản xuất thức ăn gia súc: Tham khảo ma trận thành phần dinh dưỡng chuẩn (17,03% protein thô, 3.422,90 kcal/kg) để phát triển dòng sản phẩm thức ăn hỗn hợp ép viên chuyên biệt cho phân khúc dê thịt vỗ béo tại thị trường Việt Nam.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y: Làm tài liệu tham khảo phương pháp luận về bố trí thí nghiệm dinh dưỡng trên động vật nhai lại nhỏ, quy trình phân tích thống kê GLM ANOVA trên Minitab 18 và cơ sở dữ liệu về sinh trưởng của dê lai Bách Thảo.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nên thay thế bột ngô bằng thức ăn hỗn hợp viên trong khẩu phần vỗ béo dê thịt? Bột ngô chứa hàm lượng protein thô thấp (khoảng 8 - 9%) và thiếu hụt khoáng chất thiết yếu. Thức ăn hỗn hợp viên cung cấp 17,03% protein thô và 3.422,90 kcal/kg năng lượng, giúp vi sinh vật dạ cỏ phát triển cân đối, tăng tốc độ sinh trưởng từ 55,19 g/ngày lên 84,44 g/ngày.

Mức bổ sung thức ăn hỗn hợp nào mang lại hiệu quả kỹ thuật và kinh tế tối ưu nhất? Mức 300 g thức ăn hỗn hợp/con/ngày là tối ưu nhất. Khảo nghiệm chứng minh việc tăng lên 350 g/ngày chỉ làm tăng tốc độ tăng trọng thêm 3,34 g/ngày (không có sai khác thống kê P > 0,05), làm tăng chi phí cám mà không mang lại hiệu quả vượt trội.

Dê lai 1/8 Bách Thảo x 7/8 Cỏ có ưu điểm sinh trưởng nào nổi bật so với dê Cỏ thuần địa phương? Dê lai thừa hưởng tầm vóc và khả năng tăng trọng nhanh từ máu Bách Thảo kết hợp tính thích nghi, chịu kham khổ của dê Cỏ. Khối lượng kết thúc 90 ngày đạt 20,25 kg, cao hơn 4 - 5 kg so với mức 15 - 16 kg của dê Cỏ thuần cùng lứa tuổi.

Mô hình nuôi nhốt hoàn toàn trên chuồng sàn vụ đông có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe đàn dê không? Không. Nuôi nhốt trên chuồng sàn hợp vệ sinh giúp dê tránh rét, giảm tiêu hao năng lượng do vận động và tránh lây nhiễm ký sinh trùng từ bãi chăn. Thực nghiệm cho thấy tỷ lệ nuôi sống đạt tuyệt đối 100% trong suốt mùa đông.

Thành phần thức ăn thô xanh phù hợp nhất để phối hợp cùng thức ăn hỗn hợp là gì? Cỏ voi thu cắt ở chu kỳ 45 - 50 ngày tuổi là thức ăn thô xanh tối ưu nhất, đạt 18,95% vật chất khô và 722,79 kcal/kg năng lượng, bảo đảm cung cấp đủ lượng chất xơ cần thiết cho quá trình nhai lại và ổn định pH dạ cỏ.

Kết luận

Nghiên cứu khẳng định việc thay thế bột ngô bằng thức ăn hỗn hợp viên trong khẩu phần giúp tăng tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của dê từ 55,19 g/con/ngày lên 84,44 - 87,78 g/con/ngày (tăng hơn 52%). Xác định mức bổ sung 300 g thức ăn hỗn hợp viên/con/ngày kết hợp cỏ voi tự do là định mức kỹ thuật tối ưu, đưa khối lượng dê đực lai xuất chuồng đạt 20,25 kg sau 90 ngày nuôi vỗ béo. Khẩu phần thức ăn hỗn hợp cải thiện rõ rệt các chỉ số thể hình thân thịt (vòng ngực tăng 12,00 cm, dài thân chéo tăng 9,33 cm) mà không làm biến đổi tiêu cực cấu trúc khung xương. Chứng minh tính khả thi và an toàn tuyệt đối của mô hình nuôi nhốt thâm canh chuồng sàn với tỷ lệ sống đạt 100% trong điều kiện mùa đông vùng núi phía Bắc. Mở ra giải pháp chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi dê bền vững từ chăn thả quảng canh sang nuôi nhốt vỗ béo có kiểm soát chất lượng dinh dưỡng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã tư liệu hóa chính xác các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và xác lập định mức thức ăn tinh tối ưu cho dê lai thương phẩm. Trong giai đoạn tiếp theo, nghiên cứu cần được mở rộng thử nghiệm trên quy mô trang trại từ 100 đến 200 con và đánh giá thêm các chỉ tiêu về tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt lọc và chất lượng thịt thương phẩm. Người chăn nuôi và các cơ sở sản xuất nên áp dụng ngay quy trình khẩu phần này để tối ưu hóa năng suất và lợi nhuận kinh tế.