CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG MUA LẠI SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Lý luận về hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Hoạt động mua bán sáp nhập doanh nghiệp (hay thường được gọi là M&A - viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Mergers and Acquisitions” có nghĩa là Mua bán và Sáp nhập17) ở Việt Nam được quy định một cách không thống nhất và rải rác ở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Khái niệm M&A được đề cập đến trong một số văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam. Thuật ngữ này lần đầu tiên được nhắc đến mà không quy định về định nghĩa, cụ thể như sau: “Việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức đầu tư (sau đây gọi chung là tổ chức lại doanh nghiệp) phải được Cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chuẩn y” 18.
Mãi đến năm 2003, Chính phủ mới ban hành Nghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19/03/2003 để quy định các hình thức mua bán và sáp nhập19, sau đó các định nghĩa được bổ sung và chỉnh lý theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên như đã trình bày ở Mục 3 - Phạm vi nghiên cứu ở phần đầu, nên thuật ngữ M&A trong luận văn được tác giả sử dụng để vắn tắt nội hàm là “hoạt động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp”. 17 Điều 31 Nghị định 24/2000/NĐ-CP 18 Khoản 6, Điều 1 Nghị định 27/2003/NĐ-CP 19 Khoản 1 Điều 195 Luật doanh nghiệp 2014 1. Sáp nhập doanh nghiệp Định nghĩa về hoạt động sáp nhập doanh nghiệp được quy định trong pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp.
Theo quy định của LDN 2014: “Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”20. Ngoài ra, định nghĩa của hoạt động sáp nhập còn được quy định tại LCT 2018: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”21. Mua lại doanh nghiệp Khái niệm mua lại doanh nghiệp đầu tiên chính thức quy định trong LCT 2005 như sau: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại. Theo quy định hiện hành, khái niệm mua lại doanh nghiệp được sửa đổi tại LCT 2018 như sau: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại”23.
Như vậy, mua lại doanh nghiệp theo nghiên cứu của đề tài là phương thức để kiểm soát, chi phối một doanh nghiệp khác. Phân biệt “sáp nhập” và “mua lại” Mặc dù hoạt động mua bán và sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng giữa chúng vẫn có sự khác biệt về 20 Khoản 2 Điều 29 Luật cạnh tranh 2018 21 Khoản 3 Điều 17 Luật cạnh tranh 2004 22 Khoản 4 Điều 29 Luật cạnh tranh 2018 23 https://keydifferences.com/difference-between-merger-and-acquysition.html hình thức lẫn bản chất.Theo các khái niệm trên thì điểm khác nhau cơ bản giữa “sáp nhập” và “mua lại” là24: Sáp nhập Mua lại Định Là việc một doanh nghiệp trực tiếp Là việc một hoặc một số doanh nghĩa hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, phần vốn góp, cổ phần của doanh quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối pháp của mình sang một doanh doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề nghiệp khác, đồng thời chấm dứt của doanh nghiệp bị mua lại. hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Hệ quả Doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ Không cho ra đời pháp nhân mới.
chấm dứt hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại Ạ _ Ạ _ Ị 1. Lý luận về pháp luật về góp vốn 1. Khái niệm pháp luật về góp vốn Theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập”25.
Ngoài ra, còn nhiều quan điểm cũng như các học thuyết khác nhau ghi nhận hành vi pháp lý này. Cụ thể đối với quan điểm về kinh tế, hành vi góp vốn là một hành động góp tiền bạc hay tài sản của mình để thành lập một công ty nhằm kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận. Theo đánh giá của tác giả, khái niệm về hành vi góp vốn trong LDN 2014 khá trực quan và hoàn chỉnh, có thể diễn giải như sau: Góp vốn là một hành vi pháp lý mà một chủ thể - có thể là cá nhân hoặc pháp nhân - sử dụng tài sản của mình để góp vào một công ty nhằm tạo thành vốn điều lệ của công ty. Như chúng ta đã biết, để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào từ sản xuất đến cung ứng dịch vụ, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn.
Về mặt kinh tế, vốn là phương tiện 24 Khoản 13 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 25 Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung; Công ty, vốn, quản lý và giải quyết tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, NXB Tri thức, năm 2013, tr. Về mặt pháp lý, vốn được hiểu là phương tiện đảm bảo cho việc trả nợ26. Như vậy, khái niệm về vốn được quy định theo pháp luật như sau: “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần. Ngoài ra còn có nhiều quan điểm về khái niệm vốn như: Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (máy móc, thiết bị, phương tiện, nhà xưởng sản xuất, .) nghĩa là vốn chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ tài sản là hiện vật 28 hoặc vốn là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình kinh doanh nhằm tạo ra giá trị thặng dư, có thể nói đây là nhân tố quan trọng trong kinh doanh và sản xuất.
Nếu công ty không có yếu tố về vốn, thì công ty không thể kinh doanh và sản xuất được. Ngoài ra, từ khía cạnh tài chính, vốn là tổng số tiền hay tổng tài sản do các cổ đông, thành viên đóng góp và được chia lợi nhuận từ phần vốn góp của mình khi công ty kinh doanh có lãi. Đặc điểm của pháp luật về góp vốn Đặc điểm của Pháp luật về góp vốn thể hiện thông qua “nghĩa vụ góp vốn”. Theo quan điểm của tác giả, nghĩa vụ góp vốn là một nghĩa vụ pháp lý trong đó nghĩa vụ góp vốn là nghĩa vụ của nhà đầu tư trong việc tuân thủ các quy định của pháp luật doanh nghiệp về việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty dựa trên cam kết góp vốn của mình.
Chủ thể phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định khi vi phạm nghĩa vụ góp vốn. Thứ nhất, cam kết góp vốn là sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ góp vốn, nghĩa là khi dự định thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư tự mình xác định trong trường hợp thành lập CTTNHH 1TV, hoặc thỏa thuận với các chủ thể khác trong trường hợp thành lập CTTNHH 2TV, CTHD, CTCP về vấn đề góp vốn vào doanh nghiệp. Trong khi đó, LDN 2014 không quy định cụ thể hình thức cũng như nội dung của cam kết góp vốn, mà cam kết góp vốn là sự thỏa thuận giữa các nhà đầu tư. Thông thường, cam kết góp vốn được ghi nhận bằng văn bản hoặc thể hiện bằng lời nói và có các điều khoản quan trọng như: định giá tài sản góp vốn, loại tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn, mức góp vốn, số cổ phần đã đăng ký mua, mệnh giá cổ phần.
Trong trường hợp này, cam kết góp vốn đóng vai trò ghi nhận ý chí của các nhà đầu tư về sự “hùn hạp” vốn, là sự thống nhất giữa các bên về dự định, khả năng của mỗi bên liên quan đến 26 Khoản 29 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 27 M.Cốp (1987), “Từ điển kinh tế học chính trị”, NXB Mátxơcơva, tr.518-520 28 Xem Nguyễn Thị Thu Hà, Pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp, Luận văn thạc sĩ, 2013, Tr. 12 việc góp vốn vào doanh nghiệp. Theo đó, nhà đầu tư phải biết được mình cần thực hiện các hoạt động nào để tuân thủ đúng những thỏa thuận đã đạt được trong cam kết góp vốn căn cứ vào cam kết góp vốn. Ngoài ra, thực hiện cam kết góp vốn sẽ đảm bảo quyền lợi của chính người góp vốn cũng như các bên còn lại trong cam kết góp vốn để thực hiện ý tưởng kinh doanh của mình.
Như vậy, cam kết góp vốn làm phát sinh nghĩa vụ góp vốn của họ đối với doanh nghiệp đồng thời ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư. Thứ hai, vốn điều lệ của công ty là cơ sở để công ty hoạt động, và nó được tạo thành bởi nghĩa vụ góp vốn. Hoạt động góp vốn là việc thực hiện bằng cách đưa tài sản của nhà đầu tư vào doanh nghiệp bằng cách gián tiếp hay trực tiếp. Trong đó, góp vốn gián tiếp vào công ty là việc nhà đầu tư xác lập quyền sở hữu hợp pháp của mình đối với cổ phần, phần vốn góp đã có sẵn trong vốn điều lệ của công ty thông qua các sự kiện pháp lý nhất định mà không trực tiếp chuyển quyền sở hữu tài sản vào công ty như góp vốn trực tiếp thông qua các hình thức sau: nhận chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho và nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp hoặc cổ phần.
Mặt khác, góp vốn trực tiếp vào công ty là việc chủ thể trực tiếp đưa tài sản của mình vào công ty thông qua việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn thường được thực hiện khi thành lập công ty hoặc khi công ty tăng vốn điều lệ.