PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Các dòng sông cung cấp cát để xây dựng cơ sở hạ tầng, các tòa nhà, nâng cao nền đất tại các khu vực ngập lụt, tạo các con đê ngăn lũ… Nguồn tài nguyên giá rẻ này có nhiều công dụng và nhu cầu sử dụng đang gia tăng nhanh chóng. Khai thác cát lòng sông đã phát triển vào cuối những năm 1800 ở các nước công nghiệp để xây dựng đường và làm bê tông. Cát là vật liệu xây dựng thông thường không thể thiếu đối với ngành xây dựng.
Và đây cũng là mặt hàng đang được săn lùng, khai thác để mua bán - trao đổi trên thị trường để thu lợi nhuận. Ở Việt Nam, nhu cầu sử dụng vật liệu cát đang ngày một tăng cao nên tình trạng khai thác cát và tập kết tại các bến bãi không phép đang là vấn đề nhức nhối trong dư luận suốt thời gian qua. Những năm gần đây, tình trạng cát bị khai thác trái phép tràn lan diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước gây ô nhiễm môi trường, sạt lở nghiêm trọng bờ sông, tác động xấu tình hình an ninh trật tự, đe dọa cuộc sống của người dân địa phương, gây bức xúc trong dư luận. Hoạt động bơm hút rất nhanh, diễn ra ở địa bàn giáp ranh, có mạng lưới chân rết rộng để cảnh giới nên việc bắt giữ, xử lý còn khó khăn.
Việc khai thác cát lòng sông khác với khai thác các loại tài nguyên khác vì đầu tư không lớn; Phương tiện khai thác có thể nhỏ lẻ, hoặc có quy mô lớn nhưng di chuyển linh hoạt có thể khai thác được cả ngày lẫn đêm; Cát hút lên là có thể bán được ngay, thậm chí bán ngay trên sông mà không cần tới điểm tập kết nên lợi nhuận cao. Do đó, các lực lượng chức năng rất khó khăn trong việc truy quét, xử lý vì thiếu nhân lực, phương tiện, kinh phí. Nhiều vụ việc khi bị cơ quan chức năng phát hiện, truy quét, các đối tượng sẵn sàng đánh chìm thuyền và bỏ chạy. Tại một số địa phương còn chưa xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức, nhất là lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở có hành vi bao che, dung túng để hoạt động khai thác trái phép diễn ra mà không xử lý, hoặc để kéo dài.
Đồng thời, cho xây dựng các bãi tập kết cát trái phép mà không xử lý. Trong những năm gần đây, cùng với sự 1 phát triển kinh tế của cả nước nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng, nhu cầu về vật liệu xây dựng như đất, đá, cát, sỏi. là rất lớn. Hiện nay nguồn vật liệu xây dựng cát tại xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang ngày một trở nên cấp thiết do nhu cầu xây dựng ngày càng nhiều.
Do đó việc thăm dò, khai thác cát là cần thiết để có thể đảm bảo cung cấp nguồn vật liệu thường xuyên cho công tác tu bổ, nâng cấp các tuyến đường giao thông, xây dựng hạ tầng, đê, kè. hàng năm trên địa bàn huyện và khu vực lân cận. Tuy nhiên trong quá trình tập kết bến bãi cát có nhiều bến bãi khai thác trái phép với quy mô nhỏ lẻ, hiện tượng phổ biến liên quan đến khai thác cát gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái trên cạn và dưới nước, gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh khu khai thác. Xuất phát từ những vấn đề trên được sự đồng ý của ban giám hiệu, BCN Khoa Môi trường trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của: Ths.
Dương Thị Huyền, tôi xin lựa chọn hướng đề tài nghiên cứu “Đánh giá ảnh hưởng môi trường từ hoạt động khai thác cát sông Hồng tại xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”. Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 2. Mục tiêu Đánh giá ảnh hưởng môi từ hoạt động khai thác bãi cát tại khu vực xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Nhằm đề xuất các giải pháp hạn chế các tác động tiêu cực của việc khai thác bãi cát tại địa phương và hiểu biết của người dân trong việc khai thác khoáng sản, bảo vệ tài nguyên môi trường.
Ý nghĩa của đề tài 2. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo và là cơ sở khoa học mang tính tham khảo cho các nghiên cứu liên quan. Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu để làm quen với thực tế. 2 Nâng cao kiến thức và tích lũy được kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
Ý nghĩa trong thực tiễn Đưa ra các giải pháp có tính khả thi cũng như những kiến nghị phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để nâng cao hiệu quả công tác quản lý về hoạt động khai thác cát trên địa bàn xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản 1. Tổng quan chung về hoạt động khai thác cát Trong khi thế giới đang tập trung sự chú ý của mình vào những nguồn tài nguyên chiến lược như dầu mỏ, lương thực, nước sạch thì một loại tài nguyên khác không kém phần quan trọng đang bị cạnh tranh khốc liệt, đó là cát.
Nhu cầu sử dụng cát trên toàn cầu đang tăng chóng mặt. Tại nhiều nơi trên thế giới, thậm chí những thế lực ngầm cũng sẵn sàng đâm chém nhau để có thể sở hữu loại tài nguyên tưởng chừng không đáng giá này. Tại Ấn Độ, các băng đảng xã hội đen đe dọa người dân địa phương để khai thác và vận chuyển trái phép loại tài nguyên này. Ở Marocco và vùng biển Caribbean, những kẻ trộm cát hoàng hành trên các bãi biển cạn.
Số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì cho thấy một nửa số cát dùng cho các công trình ở Morocco đến từ các bãi khai thác trái phép. (Theo Kiến Việt, 2017) Theo chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP), dù không thể tính toán chính xác lượng đất cát khai thác trái phép nhưng loại tài nguyên này chiếm 85% lượng khai thác toàn cầu mỗi năm, tương đương hơn 40 tỷ tấn và trở thành loại tài nguyên được khai thác nhiều nhất thế giới. Nguồn tài nguyên chiến lược Với tốc độ phát triển đáng kinh ngạc của nền kinh tế Châu Á, nhu cầu cát trong trộn bê tông và làm nhựa đường ngày một cao và không có gì đáng ngạc nhiên khi Châu Á trở thành thị trường nóng bỏng của cuộc đại chiến ngành đất cát. Nền kinh tế lớn nhất khu vực này là Trung Quốc chiếm đến 50% nhu cầu đất cát của toàn thế giới khi đầu tư mạnh tay cho cơ sở vật chất hạ tầng.
Tính riêng trong khoảng 2011 - 2014, Trung Quốc đã xây 32,3 triệu ngôi nhà cùng 4,5 triệu km đường xá. (Theo Kiến Việt, 2017) 4 Ngoài tác dụng lớn trong ngành xây dựng, cát cũng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp khi là nguyên liệu chủ chốt để làm kính, làm các thiết bị điện tử hoặc đóng vai trò quan trọng trong khai thác dầu mỏ. Đặc biệt tại một số quốc gia như Singapore, cát còn là tài nguyên chiến lược cần được dự trữ để lấp biển mở rộng đất liền. Kể từ thập niên 1960 tới nay, Singapore đã mở rông diện tích thêm 20% nhờ phương pháp này và phần lớn cát được nhập từ các nước láng giềng như Campuchia, Indonesia, Malaysia hay Thái Lan.
Trong vòng 20 năm qua, quốc gia này đã nhập khoảng 517 triệu tấn cát. (Theo Kiến Việt, 2017) Mặt khác, những quần đảo như Maldives hay Kiribati cũng nhập khẩu cát để nâng nền đất trước hiện tượng nước biển dâng cao. Tồi tệ hơn, Liên hiệp quốc (UNEP) dự báo vào năm 2030, thế giới sẽ có hơn 40 siêu thành phố với dân số bình quân 10 triệu người mỗi đô thị, cao hơn so với 31 siêu thành phố năm 2016. Năm 2015, khoảng 54% dân số hiện nay sống tại các đô thị và tỷ lệ này sẽ đạt 66% vào năm 2050.
(Theo Kiến Việt, 2017) Kể từ năm 1950, số lượng dân cư tại thành thị đã tăng gấp 4 lần trên toàn thế giới lên 4 tỷ người, chiếm hơn 50% tổng dân số thế giới. Thậm chí UNEP dự đoán sẽ có thêm 2,5 tỷ người nữa chuyển đến các thành phố trong 30 năm tới. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ có thêm nhà cửa, công trình được xây và nhu cầu đất cát sẽ còn tăng mạnh nữa. (Theo Kiến Việt, 2017) Riêng tại Trung Quốc, hơn 500 triệu người dân đang sống tại các vùng thành thị, nhiều gấp 3 lần so với cách đây 60 năm và bằng tổng dân số thành thị của cả Mỹ, Canada và Mexico cộng lại.
Theo tờ Guardian, một thương lái ngành cát tại Thượng Hải-Trung Quốc có thể thu nhập đến 200.000 USD/năm nhờ sự bùng nổ xây dựng tại những thành phố lớn như thế này. Kể từ năm 2000, thành phố này đã có thêm 7 triệu dân và đã xây nhiều nhà cao tầng hơn cả thành phố New York trong 10 năm qua. (Theo Kiến Việt, 2017) 5 Vậy tại sao cát lại đắt giá đến như vậy khi chúng ta thấy chúng khắp mọi nơi? Nguyên nhân rất đơn giản, cát sa mạc quá mềm và trơn nên không thể dùng cho xây dựng trong khi những ngành công nghiệp lại đòi hỏi các loại cát khác nhau tùy vào nhu cầu. Những ngành như bê tông hay làm kính đều cần những loại cát nằm sâu dưới biển hay ở lòng sông.
Hệ quả là dù cát có ở khắp mọi nơi nhưng không phải loại nào cũng được khai thác để tiêu thụ. Một ngành nữa cũng ngày càng sử dụng nhiều cát là khai thác dầu mỏ khi các nhà sản xuất phát hiện ra dùng cát trong khai thác dầu đá phiến sẽ giúp nâng năng suất. Số liệu của USGS cho thấy tỷ lệ dùng cát trong khai thác dầu đá phiến Mỹ đã tăng mạnh từ 5% năm 2003 lên 72% năm 2014. Khối lượng khai thác cát ở thượng lưu sông Mekong TT Vị trí khai thác Khối lượng khai thác (m3/năm) 1 Thượng lưu Vientiane 87.000 4 Campuchia: Thượng lưu Kongpong Cham 580.000 5 Campuchia- Biên giới Việt Nam 18.
Công nghệ khai thác cát trên sông Hiện nay, trên thế giới công nghệ khai thác cát rất đa dạng, được nghiên cứu chi tiết phù hợp với điều kiện từng vùng và từng mỏ.