CHƯƠNG 1 TONG QUAN 1. Bồi cảnh và ly do chon dé tài Từ lâu công việc và gia đình được xem là những khía cạnh quan trọng nhất trong cuộc sống và được ví như trụ cột cho sự tổn tại của con người (Sidin và cộng sự, 2010). Đề dung hòa được các yêu cầu của công việc và gia đình là một việc không dễ dàng, nhất là đối với nhân viên ngành ngân hàng do phải chịu nhiều áp lực bởi công việc như doanh số được phân bồ cho mỗi nhân viên quá cao so VỚI khả năng của họ và đòi hỏi các nhân viên phải đầu tư nhiều công sức trí lực và thời gian để tìm kiếm khách hàng. Dé làm được điều nay, các nhân viên ngành ngân hàng đôi khi phải đánh đổi thời gian dành cho gia đình mới đạt được mục tiêu đó.
Các nghiên cứu đã chỉ ra hiện tượng mâu thuẫn giữa công việc và gia đình (work - family conflict - WFC) có liên quan với các tinh trạng về tâm lý, thể trạng, thái độ của cá nhân và xã hội và có thé gây ra những nguy hại tiềm an cho tô chức, cá nhân và gia đình (Boyar và cộng sự, 2008). Đặc biệt các nghiên cứu về WEC càng phát triển mạnh trong bối cảnh lực lượng lao động trong lĩnh vực ngân hàng trên thé giới và ở Việt Nam có nhiều thay đối trong những năm gần đây (Leontaridi và cộng sự (2002). Ngành ngân hàng là ngành kinh doanh dịch vụ, găn liền với yếu tố con người. Đặc biệt, dịch vụ ngân hàng thuộc loại hình dịch vụ cao cấp, phức tạp, chính xác, với các yêu cầu đòi hỏi con người phải tập trung ở mức độ cao hơn.
So với các ngân hàng trên thế giới, hệ thống ngân hàng Việt Nam còn khá non trẻ. Các Ngân hàng tuy đã bước đầu hình thành song chưa rõ ràng và hầu hết chưa được các nhà quản trị quan tâm và chủ động phát triển với đúng tầm quan trọng của nó. Trong đó, những thách thức về xây dựng lực lượng nhân sự tốt, chuyên nghiệp, đảm bảo sự gan bó dai lâu, buộc các ngân hàng phải đâu tư và quan tâm đúng mức đền đội ngũ nhân viên, đảm bảo họ có thé gan kết với tổ chức và làm việc trong trạng thái tốt nhất về động cơ, thé trang, tâm ly, sức khoẻ, thời gian. Thực tế cho thấy, tính đến cuối năm 2014, tổng số nhân lực trong ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng là 9.670 người, nhưng đến năm 2015 ngành ngân hàng đã giảm đến 35% nhu cầu nhân lực so với 2014 (dẫn theo số liệu báo cáo của Ngân hàng nhà nước tỉnh Lâm Đồng).
Trong các nguyên nhân giảm mạnh số lượng nhân lực cũng phải kế nguyên nhân do mâu thuẫn công việc gia đình, áp lực công việc nhân viên sẵn sàng rời bỏ ngân hàng khi họ cảm nhận không còn phù hợp với môi trường làm việc tại ngân hàng. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về mâu thuẫn công việc gia đình. Điển hình là nghiên cứu của Leontaridi và cộng sự (2002) đã xem xét tình trạng căng thăng công việc dẫn đến chuyển việc. Nghiên cứu của Abeysekera (2007) thì cho rằng chuyển việc là do các yếu tố như chế độ khen thưởng, hỗ trợ từ cấp trên, phân tích công việc, khả năng phát triển công việc hay Jaramillo và cộng sự (2009) cho đó là do sự thỏa mãn công việc và Allen (2008) kết luận là do môi trường làm việc.
Mặc khác, yếu t6 mâu thuẫn công việc gia đình cũng đã được các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực quan tâm và chứng minh là yếu t6 ảnh hưởng đến ý định chuyển việc của nhân viên. Ryan va cộng sự (2009), cho thay yếu tổ mâu thuẫn công việc gia đình được sử dụng để dự đoán ý định chuyển việc của huấn luyện viên ở Mỹ. Blomme và cộng sự (2010), chứng minh mối quan hệ giữa yếu tố mâu thuẫn công việc gia đình và ý định chuyển việc ở cả nhân viên nam cũng như nữ trong ngành y tế. Hay nghiên cứu của Noor và Maad (2008), chứng minh yếu tổ mâu thuẫn công việc gia đình được là yếu tổ ảnh hưởng đến ý định chuyến việc của nhân viên tiếp thị ở Pakistan.
Tại Việt Nam, cũng có một số nghiên cứu về nguyên nhân của ý định chuyển việc của nhân viên như nghiên cứu của Võ Quốc Hưng & Cao Hào Thi (2009); Trần Thị Trúc Linh (2007), về các yếu t6 tac động như hành vi lãnh đạo, quan hệ nơi làm việc, huấn luyện và phát triển, lương thưởng và sự công nhận, truyền thong, áp lực và môi trường làm việc. Tuy nhiên, nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của WFC đến ý định chuyên việc ở Việt Nam còn chưa nhiêu, ngoại trừ nghiên cứu của Lê Thi Kim Tuyến (2014) về mâu thuẫn gia đình công việc đến ý định chuyển việc của nhân viên kinh doanh ngành nguyên liệu và phụ gia thực phẩm trên địa bàn TP. Như đã đề cập, ngành ngân hàng là ngành đặc biệt đòi hỏi nhân viên phải giỏi mới ton tại trong môi trường có áp lực công việc đó. Bên cạnh các yếu tô thuộc tổ chức đã được tìm hiểu nghiên cứu khá nhiều như môi trường làm việc, lương thưởng đãi ngộ.
cô hội thăng tién., tuy vậy yếu tô mâu thuẫn giữa công việc và gia đình (WEC) có vai trò như thé nào đối với nhân viên làm việc tại các ngân hang van còn là van dé chưa được tìm hiểu day du, nhất là ở địa bàn TP. Đà Lạt, nơi có số lượng nhân viên làm việc trong ngành ngân hàng chiếm tỷ lệ đáng kể trong lực lượng lao động văn phòng. Trong thực tế đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố mâu thuẫn công việc gia đình đến ý định chuyền việc của nhân viên ngành ngân hang là cần thiết và phù hợp với bối cảnh hiện tại. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Xác định mức độ tác động của từng yếu tô mâu thuẫn giữa công việc va gia đình đến ý định chuyền việc của nhân viên ngành ngân hàng tại Đà lạt.
- Đề xuất một số kién nghị dé các ngân hàng có thé đưa ra các chương trình hay chính sách giúp giảm ty lệ chuyển việc thông qua việc giảm mâu thuẫn giữa công việc và gia đình. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối trong nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các yếu tỗ mâu thuẫn giữa công việc và gia đình đến ý định chuyển việc của nhân viên ngành ngân hàng. Đối tượng khảo sdt là những nhân viên đang công tác trong ngành ngân hàng trên địa bàn TP.Đà Lạt có áp lực công việc cao (nhân viên tín dụng).
Nguyên nhân chuyển việc của nhân viên có thé đến từ các yếu tô thuộc tô chức, thuộc cá nhân và bối cảnh bên ngoài. Nghiên cứu này chỉ tập trung vào yếu to cá nhân, cụ thé là WFC, mà không xét đến 2 nhóm nguyên nhân còn lại. Phạm vĩ nghiên cứu - Về không gian: Nghiên cứu những nhân viên công tác tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn TP. - Về thời gian Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong tháng 3/2017 thông qua việc khảo sát 350 nhân viên đang công tác tại 7 ngân hàng thương trên địa bàn TP.
Phương pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu được thưc hiện qua 2 giai đoạn: (1) Kiểm tra thang do sơ bộ ở dạng định tinh: Nhăm mục đích điều chỉnh, rút gon hay b6 sung các bién quan sát dùng trong đo lường các khái niệm nghiên cứu cho phù hợp với thực tế của nghiên cứu. Tác giả tiễn hành thu thập ý kién cá nhân của 20 nhân viên ngân hàng về các yếu tố mâu thuẫn công việc gia đình đến ý định chuyền việc. Dựa trên những ý kiến thu thập duoc, tiễn hành xây dựng thang đo nháp và tiễn hành thảo luận nhóm với 20 nhân viên ngân hang dé rút gọn các biến không phù hợp hoặc b6 sung thêm biến theo ý kiến chung của nhóm và để hình thành thang đo sơ bộ.Sử dụng thang đo sơ bộ, dé khảo sát thử 60 nhân viên ngành ngân hàng nhăm điều chỉnh thang đo trước khi nghiên cứu chính thức. (2) Nghiên cứu chính thức Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với mẫu khảo sát gồm nhân viên đang công tác trong ngành ngân hàng trên địa bàn TP.Đà Lat bang bảng câu hỏi được thiết kế sẵn.
Thông qua kết quả thu thập được từ bảng câu hỏi, bằng phần mềm SPSS 20.0, tác giả tiến hành kiểm định tin cậy thang đo bang hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tô khám phá (EFA), phân tích tương quan, phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết của mô hình. Y nghĩa của đề tài Về mặt lý thuyết Nghiên cứu thực hiện điều chỉnh và kiểm định các thang do thông qua dữ liệu thu thập ở TP. Đà Lạt, các dữ liệu này sẽ góp phần bé sung vào kho lý thuyết thang đo, góp phân giúp các nhà nghiên cứu và ứng dụng hiểu rõ hơn về các yêu tô mâu thuẫn công việc gia đình đến ý định chuyến việc. Về mặt thực tiễn Thông qua việc xác định những yếu tổ mâu thuẫn giữa công việc và gia đình đến ý định chuyển việc của nhân viên ngành ngân hàng.
Các kết quả này sé là co sở khoa học và khách quan giúp cho các nhà lãnh đạo nhìn nhận lại công tac quản trị nhan lực của minh, nhằm đưa ra các giải pháp thiết thực, tạo sự gan bó công việc của nhân viên, giúp giảm tý lệ chuyền việc, đặc biệt là nhân viên gi01. Kết cau đề tài Luận van được kết cầu gồm 5 chương: Chương ¡ Tông quan về nghiên cứu; Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Cương 3 Phuong pháp nghiên cứu; Chương 4 Kết quả nghiên ctu: Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ hệ thông hóa cơ sở lý thuyết, các khái niệm và xây dựng các mối quan hệ giữa các khái niệm cùng các giả thuyết nghiên cứu. Trong chương 2 có những phan chính sau: (1) Các khái niệm nghiên cứu; (2) Các yếu tố tác động đến WEC và (3) Các mối quan hệ va giả thuyết nghiên cứu.
Các lý thuyết về mâu thuẫn giữa công việc - gia đình và ý định chuyền việc 2. Mâu thuẫn giữa công việc va gia đình (WFC) “Madu thuẫn giữa công việc và gia đình là gì” là một câu hỏi có rất nhiều câu trả lời nhưng khó có câu trả lời nào có thé bao quát tat cả các khía cạnh mà nó dé cập. Khái niệm về mâu thuẫn giữa công việc và gia đình không hoản toàn đồng nhất giữa các tác giả và các nhà nghiên cứu.