Đặt vấn đề Đề án xây dựng thương hiệu gạo thơm Yên Dũng được triển khai dựa trên kết quả mô hình sản xuất đại trà các giống lúa thơm đặc sản trên địa bàn huyện Yên Dũng từ năm 2006 đến nay. Nhằm khuyến khích các hộ tham gia đề án, hàng năm huyện trích ngân sách hỗ trợ 30% giá giống lúa cho nông dân, tăng cường tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật gieo cấy, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh theo kỹ thuật mới như: cấy lúa theo phương pháp cải tiến mới SRI (System of Rice Intensification), “3 giảm, 3 tăng”…nhằm hạn chế lượng thuốc bảo vệ thực vật mà vẫn đảm bảo năng suất, chất lượng gạo… Các giống lúa chất lượng cao như: Bắc thơm số 7, Hương thơm số 1, N46…đã được huyện đưa vào sản xuất và được nông dân chấp nhận vì chúng đều cho năng suất ổn định và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trong số này, đáng chú ý hơn cả và được đa số người nông dân sản xuất là giống Bắc thơm số 7. Tuy đây là giống lúa có năng suất không thật cao nhưng ổn định, chất lượng gạo được người tiêu dùng ưa chuộng và đặc biệt là giá cả cao hơn gạo thường từ 2000 đến 3000VNĐ/kg.
Tuy nhiên, khi gieo cấy ở hộ gia đình giống lúa này thường dễ bị nhiễm sâu bệnh dẫn đến năng suất bị ảnh hưởng xấu. Nguyên nhân là do người nông dân thường cấy nhiều dảnh lúa trên một khóm lúa (3 - 7 dảnh/khóm) và cấy với mật độ khá dày (khoảng 40 – 50 khóm/m2). Điều này dẫn đến quần thể lúa rậm rạp, tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng một cách vô ích và dễ bị nhiễm các loại sâu bệnh hại. Mặt khác, như chúng ta đã biết kỹ thuật cấy và mật độ cấy có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của lúa và năng suất lúa do ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc quần thể của ruộng lúa.
Nhưng mối quan hệ giữa mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm và sự tương tác giữa chúng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Bởi vì các công trình nghiên cứu về vấn đề cấy và mật độ cấy còn rất khiêm tốn. n Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và thực tiễn nói trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ và số dảnh cấy/khóm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và số dảnh cấy đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Bắc thơm số 7.
Tìm ra mật độ và số dảnh cấy hợp lý cho năng suất cao để tiến tới khuyến cáo trong sản xuất lúa tại địa phương. Yêu cầu của đề tài Xác định được sự tương tác giữa mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm ảnh hưởng như thế nào đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống Bắc thơm số 7. Xác định được mật độ và số dảnh cấy cho năng suất cao nhất nhằm ứng dụng trong canh tác lúa. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Tìm ra mối quan hệ tương tác giữa mật độ cấy và số dảnh cấy/khóm ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây lúa.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Ứng dụng kết quả nghiên cứu này trong việc cải tiến kỹ thuật cấy lúa hiện nay bằng việc xác định mật độ cấy và số dảnh cấy phù hợp để đưa vào quy trình sản xuất nhằm tiết kiệm giống, chi phí sản xuất, giảm sâu bệnh…và bảo vệ môi trường. n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Năng suất lúa được hình thành từ các yếu tố, đó là: Số bông/m2.
số hạt chắc/bông và trọng lượng 1000 hạt (P1000 hạt). Mối quan hệ đó được thể hiện bằng công thức: Số bông/m2 x số hạt chắc/bông x P1000 hạt Năng suất lúa (tạ/ha) = _______________________________________________________ 10000 Năng suất quan hệ với các yếu tố tạo thành năng suất là quan hệ toán học. Nhưng giữa các yếu tố cấu thành năng suất trong một quần thể ruộng lúa lại có quan hệ sinh học thong qua mối quan hệ giữa quần thể và cá thể. Trong đó ta thấy: Số bông/m2 đặc trưng cho quần thể, P1000 hạt đặc trưng cho cá thể.
Mối quan hệ này thể hiện tính thống nhất và mâu thuẫn. Khi cá thể tốt sẽ tạo điều kiện tạo nên quần thể tốt. Nhưng khi cả quần thể quá tốt sẽ hạn chế cá thể phát triển: khi số bông tăng quá nhiều sẽ làm cho số hạt chắc/bông và P1000 hạt giảm đi. Trong sinh trưởng và phát triển của cây lúa, mỗi thời kỳ sinh trưởng sẽ tập trung vào một quá trình hoạt động trung tâm nhằm tạo ra những yếu tố nhất định góp phần tạo nên năng suất lúa sau này.
Ta thấy: Thời kỳ đầu từ gieo đến cuối đẻ hữu hiệu là thời gian quyết định yếu tố bông/m2. Mật độ gieo cấy và sức đẻ nhánh hữu hiệu sẽ làm cho số bông/m2 nhiều hay ít vì: Số bông/m2 = Số dảnh cơ bản x Sức đẻ nhánh Hai yếu tố nói trên được quyết định ngay từ thời gian đầu là lúc gieo cấy và lúc đẻ nhánh. Để qua giai đoạn đó, sau này không còn cơ hội tác động nữa. Nắm được cơ cấu hình thành và thời gian quyết định từng yếu tố là điều cần thiết, là cơ sở khoa học để tác động các biện pháp kỹ thuật có hiệu quả [15, tr.
n Theo Nguyễn Văn Hoan, số dảnh cấy ở một khóm lúa phụ thuộc trước hết vào số bông cần đạt/m2 và căn cứ vào mật độ đã chọn để đạt được số bông theo ý muốn. Nguyên tắc chung của việc xác định số dảnh cấy là: một khóm lúa dù cấy ở mật độ khác nhau, tuổi mạ khác nhau nhưng cuối cùng cần đạt số bông theo yêu cầu để đạt được số lượng hạt thóc/m2 như mong muốn. Mật độ là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích, với lúa cấy thì mật độ được đo bằng đơn vị khóm/m2. Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao (cấy dầy) thì số bông càng nhiều, song số hạt/ bông càng ít (bông bé), tốc độ giảm số hạt/ bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ.
Vì thế cấy dầy quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu. Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều khẳng định: khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn Văn Hoan, 2003 ) [10]. Xác định được mật độ gieo cấy lúa hợp lý là biện pháp kỹ thuật làm giảm sự phá hoại của sâu, bệnh, tăng đáng kể năng suất, chất lượng lúa cuối vụ.
Xác định mật độ gieo cấy căn cứ vào các yếu tố sau: * Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào đặc điểm của giống lúa định gieo cấy: + Giống lúa chịu thâm canh càng cao, tiềm năng năng suất lớn mật độ gieo cấy càng dày và ngược lại, giống lúa chịu thâm canh thấp mật độ gieo cấy thưa hơn. Ví dụ mật độ gieo cấy giống lúa lai chịu thâm canh cao, tiềm năng năng suất lớn sẽ cao hơn mật độ gieo cấy các giống lúa nếp chịu thâm canh kém, tiềm năng năng suất trung bình. + Những giống lúa có bộ lá gọn, góc lá nhỏ, thế lá đứng gieo cấy mật độ dày hơn những giống lúa có phiến lá to, góc lá lớn. * Mật độ gieo cấy lúa phụ thuộc vào tuổi mạ: Tuổi mạ càng ngắn (mạ non) khả năng đẻ cao cấy thưa hơn mạ già, tuổi mạ cao.
n * Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào độ phì của đất, khả năng thâm canh của hộ nông dân: Đất tốt, khả năng thâm canh cao mật độ gieo cấy thưa hơn loại đất xấu, khả năng thâm canh thấp. * Xác định mật độ gieo cấy lúa hợp lý căn cứ vào mùa vụ: Vụ mùa, thời tiết nắng nóng cây lúa sinh trưởng nhanh, đẻ sớm, đẻ nhiều cấy thưa hơn vụ đông xuân nhiệt độ thấp, cây lúa lâu đẻ, đẻ kém như kinh nghiệm lâu năm của người nông dân "chiêm ăn dảnh, mùa ăn bông" [38]. Cơ sở thực tiễn Cây lúa nước giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp lương thực cho con người ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở nước ta lúa còn là một nông sản xuất khẩu mang lại giá trị cao cho nông nghiệp. Phương hướng sản xuất lúa của Việt Nam là tập trung khai thác, đầu tư thâm canh cho những vùng có điều kiện thuận lợi để cây lúa có thể phát huy tối đa tiềm năng của giống.
So với các nước, Việt Nam chúng ta là nước nông nghiệp nhưng bình quân lại ít đất nông nghiệp nhất, dân tộc ta có nghề truyền thống trồng lúa nước nhưng bình quân lại có ít đất trồng lúa nhất. Thử so sánh, chúng ta hiện có trên 86,5 triệu dân nhưng chỉ có gần 4,2 triệu ha đất trồng lúa, bình quân chỉ 485 m2/người, còn Thái Lan có 63 triệu dân nhưng có tới 9,6 triệu ha trồng lúa nên bình quân của họ tới 1.500 m2/người, gấp hơn 3 lần chúng ta. Việt Nam hiện nay được xếp thứ 13 về dân số mà chưa kể đến mỗi năm lại có thêm 1 triệu trẻ em chào đời. Mật độ dân số chúng ta rất cao, cao gấp 2 lần so với Trung Quốc, gấp 6,7 lần so với quy chuẩn của thế giới.
Đất chật, người đông nên việc thâm canh, tăng vụ là tất nhiên [13]. Song trong sản xuất lúa hiện nay ở Việt Nam nói chung và ở Đồng bằng Bắc bộ nói riêng, bà con nông dân vẫn còn tập quán đầu tư quá mức về phân bón hoá học (đặc biệt là phân đạm), lượng giống và thuốc bảo vệ thực vật. Đây là nhưng nguyên nhân dẫn đến hiệu quả sản xuất lúa không cao mà còn gây ô nhiễm môi trường. Nhiều nghiên cứu của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long và những nghiên cứu hợp tác quốc tế với JIRCAS Nhật Bản cho thấy có thể tiết kiệm hơn 50 - 60% lượng hạt giống mà năng suất vẫn không thay đổi.
Vì thế n một yêu cầu cấp thiết hiện nay là chúng ta phải có nhưng giải pháp khoa học giúp thâm canh lúa bền vững nhằm hướng đến một nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả [13]. Một số đặc điểm của cây lúa liên quan đến kỹ thuật thâm canh lúa 2.