CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT LỢN 1. Năng suất chăn nuôi lợn 1. Khái quát chung Nâng cao năng suất sản xuất nông nghiệp là một trong những mục tiêu quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp.
Trước đây, năng suất trong nông nghiệp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng chưa cao nên sản ph m chăn nuôi và trồng trọt chỉ đủ phục vụ nhu cầu tối thiểu, trong đó sản ph m nông nghiệp chủ yếu chỉ mang tính tự cung tự cấp. Ngày nay, nhờ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, các tiến bộ kỹ thuật được chuyển giao và áp dụng rộng rãi nên năng suất sản xuất trong nông nghiệp được nâng cao. Sản ph m nông nghiệp nói chung, sản ph m chăn nuôi nói riêng ngày càng đa dạng về chất lượng và chủng loại, cung thực ph m ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu thực ph m cho xã hội. Nâng cao năng suất chăn nuôi nói chung và năng suất chăn nuôi lợn nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh thịt lợn vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tiêu dùng thực ph m của thế giới.
Sản lượng thịt của thế giới năm 2016 đạt 320,7 triệu tấn, trong đó, sản lượng thịt lợn đạt 116,4 triệu tấn, chiếm 36,3% tổng sản lượng sản xuất của thế giới (FAO, 2017). Ở Việt Nam, trước những năm 1980, phương pháp chăn nuôi chủ yếu là quảng canh, tự cung tự cấp, người nông dân thường chọn giống lợn bản địa, nuôi giản đơn theo hình thức “nuôi lợn b ống” (Nguyễn Thiện, 2005). Thức ăn cho lợn chủ yếu là phụ ph m nông nghiệp, rau xanh, chế độ dinh dưỡng thiếu hụt, không đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng và phát triển tối đa của lợn, do đó, năng suất chăn nuôi rất thấp, lợn được nuôi khoảng 08 tháng đến 01 năm mới xuất bán nhưng cũng chỉ đạt 50- 70kg (Nguyễn Thiện, 2005). Từ năm 2005 đến nay, chăn nuôi lợn ở Việt Nam đã phát triển nhanh chóng với quy mô lớn hơn, phương thức sản xuất chuyên nghiệp với mức độ thâm canh cao hơn.
Trong các trang trại, người chăn nuôi đã 7 đầu tư chuồng trại hiện đại hơn, tăng sử dụng thức ăn công nghiệp, chọn nuôi các giống lợn ngoại có năng suất cao (Vũ Đình Tôn và cs, 2007) Năng suất chăn nuôi lợn phản ánh khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi lợn. Các yếu tố kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi lợn bao gồm: chọn tạo và nhân giống lợn, cân đối kh u phần tạo thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, sử dụng vaccine và các biện pháp phòng chống dịch bệnh, cải tiến chất lượng chuồng trại. Năng suất chăn nuôi cũng phản ánh trình độ quản lý trang trại chăn nuôi như quản lý giống, quản lý đàn sinh sản, quản lý sức kh e vật nuôi … Ngày nay, với việc phát triển của công nghệ thông tin, việc ứng dụng các phần mềm và kết nối internet đã tạo ra bước đột phá trong việc lưu giữ và chia sẻ thông tin, đồng thời cho phép phân tích, chọn lọc ra nhưng giống lợn, dòng lợn có năng suất, chất lượng cao. Nhu cầu của thị trường về lợn có tỷ lệ nạc và tỷ lệ mỡ giắt cao nhưng lại có tỷ lệ hao hụt thấp sau giết mổ đã đặt ra những những yêu cầu cho các nghiên cứu khoa học.
Trong đó, bên cạnh việc chọn lọc các giống lợn tốt, việc cải tiến quy trình nuôi dưỡng lợn, cải tiến quy trình giết mổ ngày càng được quan tâm, nghiên cứu và ứng dụng. Ở nước ta, việc cải tiến năng suất và phát triển ngành chăn nuôi lợn đã có những bước tiến quan trọng và đang dần đổi mới theo hướng chuyên nghiệp. Năm 2016, tổng đàn lợn của Việt Nam đạt 29,1 triệu con, sản lượng đạt 3,66 triệu tấn, cao nhất ở Đông Nam Á, đứng thứ 2 châu Á và nằm trong 10 nước có đàn lợn lớn nhất thế giới (FAO, 2017). Tốc độ tăng đàn lợn của Việt Nam trong giai đoạn 1997-2007 đạt rất cao (5,06%/năm), tuy nhiên, tốc độ tăng đàn đã giảm trong giai đoạn 2007-2017 (0,91%/năm).
Trong cơ cấu sản lượng thịt sản xuất ở Việt Nam, thịt lợn hiện chiếm tỷ lệ cao nhất với 72,98 %, thịt gia cầm chiếm 19,15%,thịt trâu bò chiếm 7,87 % (Tổng cục Thống kê, 2016). Trong kế hoạch tái cơ cấu ngành chăn nuôi được ban hành năm 2014, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã định hướng lại ngành chăn nuôi theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả. Để đạt được mục tiêu này, các chính sách đã và đang tập trung vào: 8 (1) tái cơ cấu về giống và loài vật nuôi; (2) tái cơ cấu về vùng chăn nuôi, (3) tái cơ cấu về phương thức sản xuất; (4) tái cơ cấu theo chuỗi giá trị để gắn sản xuất với thị trường. Mục tiêu chung là nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản ph m chăn nuôi Việt Nam với khu vực và thế giới (Quyết định số 984/QĐ-BNN-CN).
Có thể thấy rằng, khả năng cạnh tranh của ngành chăn nuôi lợn Việt Nam với khu vực và thế giới phụ thuộc phần lớn vào khả năng, mức độ về cải tiến năng suất sinh sản và năng suất lợn thịt. Các chỉ tiêu phản ánh năng suất sinh sản Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định mức kỹ thuật quan trọng bao gồm: số con đẻ ra còn sống/ổ, số con cai sữa/ổ, số ngày cai sữa, khối lượng toàn ổ lúc sơ sinh, khối lượng toàn ổ lúc cai sữa, số lứa đẻ/nái/năm, tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa (Quyết định 675/QĐ-BNN- CN ngày 4/4/2014 của Bộ Nông nghiệp và PTNT). Theo tiêu chu n Việt Nam (TCVN - 1280 - 81) về giám định lợn giống, lợn nái sinh sản trong các cơ sở nhân giống được giám định 4 chỉ tiêu: - Số con sơ sinh còn sống: là số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng, không tính những lợn con có khối lượng từ 0,2 kg trở xuống với lợn nội và 0,5 kg trở xuống với lợn ngoại và nái có máu ngoại. - Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi (tính bằng kg) là tổng khối lượng của tất cả lợn con do con nái đó nuôi đến 21 ngày tuổi.
- Khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi: là tổng số khối lượng của tất cả lợn con do con nái đó nuôi đến cai sữa. - Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ: Đối với những lợn nái đẻ 2 lứa trở lên thì khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là số ngày tính từ ngày đẻ của lứa trướcđến lứa kế tiếp. 9 Đặng Vũ Bình và cs (2008) công bố khả năng sinh sản của nái F1(Yorkshire x Móng Cái) phối với 03 đực giống gồm Duroc, Landrace và PiDu (theo dõi tại các trang trại Hải Dương, Hưng Yên và Bắc Ninh) cho kết quả như sau: Bảng 1. Khả năng sinh sản của lợn nái F1(Yorkshire x Móng Cái) khi lai với đực uroc, Landrace và Pi u Duroc x Landrace x PiDu x Chỉ tiêu F1(Yorkshire x F1(Yorkshire x F1(Yorkshire x Móng Cái) Móng Cái) Móng Cái) Thời gian mang thai (ngày) 114,13 ± 0,21 114,0 ± 0,31 114,06 ± 0,45 Số con đẻ ra (con/ổ) 12,35 ± 0,31 12,80 ± 0,41 11,44 ± 0,34 Số con còn sống (con/ổ) 11,68 ± 0,34 12,07 ± 0,50 10,72 ± 0,36 Tỷ lệ sơ sinh sống (%) 94,39 ± 3,48 94,18 ± 2,33 93,93 ± 1,65 Số con để nuôi (con/ổ) 11,29 ± 0,29 11,20 ± 0,38 10,41 ± 0,45 Số con cai sữa (con/ổ) 10,26 ± 0,41 10,40 ± 0,39 9,91 ± 0,42 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) 91,37 ± 1,33 93,53 ± 2,20 95,69 ± 1,04 Thời gian cai sữa (ngày) 29,45 ± 0,25 29,93 ± 0,31 29,53 ± 0,28 Khối lượng sơ sinh (kg/con) 1,02 ± 0,01 1,07 ± 0,01 1,15 ± 0,01 Khối lượng sơ sinh của ổ (kg/ổ) 12,08 ± 0,56 13,09 ± 0,43 12,06 ± 0,41 Khối lượng cai sữa (kg/con) 6,00 ± 0,06 6,31 ± 0,06 6,16 ± 0,06 Khối lượng cai sữa ổ (kg/ổ) 61,76 ± 1,89 66,07 ±2,79 61,04 ± 1,77 (Đặng Vũ Bình và cs, 2008) Phan Xuân Hảo và cs (2009) cũng đã công bố năng suất sinh sản của 03 lợn nái Landrace, Yorkshire, F1(LY) phối với đực lai PiDu với các chỉ tiêu tương ứng như sau: Tuổi đẻ lứa đầu (ngày) 345,36 ± 1,98; 362,25 ± 1,67; 379,50 ± 1,96; Số con đẻ ra (con/ổ) 11,99 ± 0,15; 11,46 ± 0,16; 11,75 ± 0,15; Số con để nuôi (con/ổ) 11,26 ± 0,10; 10,84 ± 0,12; 11,18 ± 0,10; Số con cai sữa (con/ổ) 11,10a ± 0,10; 10,49b ± 0,12; 10,90a ± 0,10; Khối lượng sơ sinh (kg/ổ) 17,24 ± 0,19; 16,64 ± 0,21; 17,14 ± 0,19; Khối lượng cai sữa (kg/con) 8,42a ± 0,06; 10 8,34a ± 0,04; 8,44a ± 0,03; Khoảng cách lứa đẻ (ngày) 156,34a ± 0,56; 154,70b ± 0,36; 153,19c ± 0,36; Thời gian phối trở lại (ngày) 9,49a ± 0,53; 8,60a ± 0,30; 7,47b ± 0,35 (Phan Xuân Hảo và cs, 2009).
Theo Nguyễn Văn Thắng, lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối giống với đực Landrace, Duroc và (Piétrain x Duroc) có năng suất sinh sản khá ổn định với các chỉ tiêu tương ứng như sau: số con cai sữa (con/ổ) lần 10,06 ± 0,19; 10,05 ± 0,17; 10,15 ± 0,18; số lứa đẻ (lứa/năm) 2,31 ± 0,02; 2,32 ± 0,02; 2,31 ± 0,02 (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010) Có thể thấy rằng, chỉ tiêu về số lợn con cai sữa/nái/năm liên quan đến một loại các chỉ tiêu khác như: số con đẻ ra/lứa, số con cai sữa/ổ, số lứa đẻ/nái/năm, tỷ lệ lên giống, tỷ lệ nái phối giống đạt, số ngày không sản xuất của nái, tỷ lệ hao hụt trước cai sữa. Ngoài ra, năng suất chăn nuôi lợn còn có thể được xác định bằng khối lượng thịt xẻ/nái/năm (kg/nái/năm), số ngày nái không sản xuất/năm. Các chỉ tiêu sinh sản nêu trên trên ít nhiều có liên hệ với nhau và liên quan đến chỉ tiêu tổng hợp (Số lợn con cai sữa/nái/năm). Chỉ tiêu về năng suất chăn nuôi lợn thịt Theo Phan Xuân Hảo và cs (2001), Đặng Vũ Bình và cs (2005), Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006), Đỗ Đức Lực và cs (2008), các chỉ tiêu phản ánh năng suất chăn nuôi lợn thịt tập trung vào 5 chỉ tiêu chính như sau: KLKT (gr) – K.lượng bắt đầu (gr) a) Tăng KL bình quân (g/ng) = Thời gian nuôi (ngày) K.