LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Là một nền kinh tế đang phát triển, có vị trí địa lý chiến lƣợc thuận lợi về mậu dịch, Việt Nam không ngừng thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc. Sự xuất hiện của TTCK là xu thế tất yếu để tăng tốc đầu tƣ và phát triển. Việc đƣa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 đã đánh dấu cho việc xuất hiện của TTCK Việt Nam.
Tại thời điểm này chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết với 2 loại cổ phiếu là REE và SAM với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên đến nay quy mô thị trƣờng tăng 50 lần và tỷ lệ vốn hoá trên GDP đạt trên 30% với gần 800 doanh nghiệp giao dịch. TTCK Việt Nam đã có những bƣớc phát triển nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển nền kinh tế của đất nƣớc, là kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp và cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, những thay đổi trong chính sách kinh tế vĩ mô đã tác động rất lớn đến TTCK làm cho thị trƣờng trải qua nhiều giai đoạn biến động mạnh.
Điều này ảnh hƣởng tới sự phát triển của nền kinh tế và làm thay đổi các quyết định đầu tƣ. Vì vậy, đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán có một vai trò quan trọng đối với nhà đầu tƣ cá nhân, tổ chức và các nhà hoạch định chính sách. Có rất nhiều nghiên cứu trên các TTCK đã phát triển, mới nổi và chƣa phát triển đã xác định xem yếu tố kinh tế vĩ mô nào thực sự tác động tới chỉ số giá chứng khoán cũng nhƣ là mức độ tác động của chúng. Bằng việc kiểm định trong thực tế qua mô hình kinh tế lƣợng sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát hơn về biến động của chỉ số giá chứng khoán để đƣa ra các kiến nghị cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tạo điều kiện để phát triển TTCK.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Ảnh hƣởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình. Sự cần thiết của đề tài: Ở thị trƣờng Việt Nam, việc thay đổi của các chính sách cũng nhƣ các biến số vĩ mô thƣờng xảy ra khá đột ngột nên thƣờng có tác động khá mạnh (tích cực và tiêu cực) lên tâm lý của các nhà đầu tƣ, nhất là trong lĩnh vực chứng khoán. Bằng việc phân tích trong thực tế sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về rủi ro và biến động của chỉ số giá chứng khoán để lập ra các dự báo cũng nhƣ phòng ngừa cho những hoạt động đầu tƣ. Do đó, đề tài “Ảnh hƣởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam” là một đề tài có tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn nhất định trong hiện tại, đề tài này là cơ sở để nhà quản lý, các chủ thể có liên quan có thể tạo ra tiền đề rất quan trọng cho các giải pháp thúc đẩy TTCK Việt Nam trong thời gian tới.
Mục tiêu nghiên cứu đề tài: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài chủ yếu làm sảng tỏ tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm giá vàng, giá dầu, lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền mở rộng, chỉ số sản xuất công nghiệp tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam và đo lƣờng mức độ tác động của chúng. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là: Nghiên cứu ảnh hƣởng của yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam Đo lƣờng ảnh hƣởng của yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam Đánh giá sự ảnh hƣởng của yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam Đề xuất một số giải pháp đối với chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tạo điều kiện để phát triển TTCK Việt Nam 123doc 3 Để đạt đƣợc mục tiêu trên, nghiên cứu sẽ tập trung phân tích để trả lời các câu hỏi sau: Thứ nhất, xác định xem liệu có tồn tại mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô với chỉ số giá chứng khoán Việt Nam hay không ? Thứ hai, trong trƣờng hợp có tồn tại mối quan hệ thì yếu tố kinh tế vĩ mô nào có ảnh hƣởng tới chỉ số giá chứng khoán và chỉ số giá chứng khoán tác động đến yếu tố kinh tế vĩ mô nào, mức độ tác động ra sao? 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là chỉ số VN-Index, giá vàng, giá dầu, lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền mở rộng và chỉ số sản xuất công nghiệp. Phạm vi nghiên cứu: Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam, giá vàng trong nƣớc, giá dầu thế giới, lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền mở rộng M2 và chỉ số sản xuất công nghiệp.
Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2004 đến tháng 02/2013, gồm 110 quan sát. Phƣơng pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng mô hình tự hồi quy vector (VAR) để kiểm định tác động của yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam. Trong đó các biến bao gồm: Chỉ số giá chứng khoán Việt Nam đƣợc đo bằng chỉ số VN-Index Giá vàng trong nƣớc Giá dầu thế giới Lãi suất gửi tiết kiệm 1 tháng Lạm phát đƣợc đo bằng chỉ số giá CPI Tỷ giá hối đoái đƣợc đo bằng tỷ giá USD/VND Cung tiền mở rộng M2 Chỉ số sản xuất công nghiệp Bên cạnh đó, tác giả có sử dụng một số phần mềm để phân tích và xử lý số liệu nhƣ Excel, phân tích thống kê, so sánh, chọn mẫu, phần mềm Eview 6 để chạy hồi quy. Cấu trúc của đề tài: Bố cục của đề tài đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về ảnh hƣởng của yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Chƣơng 2: Phân tích ảnh hƣởng của yếu tố kinh tế vĩ mô tới chỉ số giá chứng khoán Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp đối với chính sách kinh tế vĩ mô nhằm tạo điều kiện để phát triển TTCK Việt Nam 123doc 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TỚI CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 1.1 Thị trƣờng chứng khoán 1.1 Khái niệm Thị trƣờng chứng khoán (TTCK) là một bộ phận quan trọng của thị trƣờng vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trƣởng kinh tế hay cho các dự án đầu tƣ.
TTCK là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán đƣợc tiến hành ở hai thị trƣờng sơ cấp và thứ cấp. Do vậy TTCK là nơi chứng khoán đƣợc phát hành và trao đổi.2 Chức năng của thị trƣờng chứng khoán 1.1 Huy động vốn đầu tƣ cho nền kinh tế Khi các nhà đầu tƣ mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ đƣợc đƣa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phƣơng cũng huy động đƣợc các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tƣ phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.2 Cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng TTCK cung cấp cho công chúng một môi trƣờng đầu tƣ lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú.
Các loại chứng khoán trên thị trƣờng rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tƣ có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán Nhờ có TTCK các nhà đầu tƣ có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với ngƣời đầu tƣ. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tƣ. TTCK hoạt động càng năng 123doc 6 động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trƣờng càng cao.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp đƣợc phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp đƣợc nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.5 Tạo môi trƣờng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác.
Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tƣ đang mở rộng, nền kinh tế tăng trƣởng; ngƣợc lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK đƣợc gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hƣớng đầu tƣ đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.3 Cơ cấu thị trƣờng chứng khoán 1.1 Căn cứ vào phƣơng tiện pháp lý của hình thức tổ chức thị trƣờng TTCK chính thức (The stock exchange) hay còn gọi là TTCK tập trung, là TTCK hoạt động theo các quy định pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã đƣợc đăng ký.
TTCK chính thức có địa điểm và thời gian mua bán rõ rệt, giá cả đƣợc định theo thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà Nƣớc về chứng khoán.