Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Khung phân tı́ch, dữ liê ̣u và cách tiế p câ ̣n. Chương 3: Đánh giá tác đô ̣ng của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chương 4: Nguyên nhân dẫn đế n kế t quả tác đô ̣ng, kế t luâ ̣n và một số khuyến nghị.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn Theo hiểu biết của tác giả thì hoạt động kiểm tra thuế DN thu hút nhiều nhà nghiên cứu, tuy nhiên cho đến hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu về tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp sử dụng kỹ thuật khác biệt trong khác biệt (DID) của phương pháp bán thí nghiệm. Có thể kể tên một số nghiên cứu tiêu biểu sau: Nguyễn Chí Dũng (2009) đã phân tích vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế đối với tính tuân thủ của NNT. Tác giả đã đưa ra bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế như: Tỷ lệ (%) số cuộc thanh tra, kiểm tra/ số DN trong vòng 1 năm; tỷ lệ (%) độ chính xác trong phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra, kiểm tra. Lê Thị Phương Thảo (2009) phân tích thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế qua ba nội dung: Đăng ký thuế; kê khai, tính thuế và nộp thuế; chấp hành kế toán chứng từ, hóa đơn.
Kết quả cho thấy, để đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra thuế cần tập trung vào các nội dung: Xây dựng bộ tiêu chí, đánh giá, lựa chọn xếp loại DN để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế cho phù hợp; phân cấp quản lý DN cho các chi cục thuế để chủ động trong công tác quản lý thuế. Ngô Thị Thu Hương (2011) đã kế thừa các nghiên cứu trước và đưa ra những tiêu chí đính tính, định lượng về hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế, nêu lên được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế như: trình độ dân trí, điều kiện kinh tế xã hội, cơ chế quản lý thuế, mô hình quản lý thuế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Võ Đức Chín (2011) đã đề xuất mô hình nghiến cứu các yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của DN tại tỉnh Bình Dương gồm có 6 nhóm nhân tố: (1) Đặc điểm về DN; (2) Các yếu tố về ngành kinh doanh; (3) Các yếu tố về xã hội; (4) Các yếu tố kinh tế; (5) Các yếu tố về hệ thống thuế; (6) Các yếu tố tâm lý DN. Kết quả phân tích số liệu khảo sát 200 DN bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá và hồi quy đa biến cho thấy cả 6 nhóm nhân tố đều ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của DN.
Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ thuế là yếu tố kinh tế; hệ thống thuế và đặc điểm DN. Phan Thị Minh Hiền (2012) trình bày lý luận hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế với các nội dung: khái niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả kiểm tra, thanh tra tuế. Hiệu quả của thanh tra, kiểm tra thuế được xác định qua các tiêu chí: số thu tăng, chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật và công bằng xã hội. Lê Tự Cư (2012) nghiên cứu về kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Chi Cục Thuế quận Hải Châu.
Kết quả cho thấy, công tác kiểm soát thuế giá trị gia tăng thực sự chưa đạt hiệu quả như yêu cầu, chưa bao quát hết các hoạt động của DN. Môi trường kiểm soát thuế bị hạn chế nhiều mặt, chưa có hướng dẫn chi tiết về nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn cho cán bộ thuế làm công tác kiểm tra thuế DN. Hồ Hoàng Trường (2012) sử dụng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là công tác thanh, kiểm tra với ba biến độc lập gồm biến mối quan hệ giữa cơ quan thuế và DN, biến cơ quan thuế và biến DN. Kết quả cho thấy công tác thanh, kiểm tra thuế có mối quan hệ tuyến tính với ba biến độc lập trên.
Do đó để nâng cao chất lượng công tác thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, tác giả đề xuất là phải tìm cách cải thiện các hệ số trong mô hình mà cụ thể là phải tác động vào các yếu tố Cục Thuế, DN, mối liên hệ giữa cơ quan thuế và DN. Nguyễn Diệu Thủy (2013) sử dụng số liệu thứ cấp với các phương pháp như phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích dựa trên các tiêu chí như: Quy mô của DN, loại hình DN, mức độ tuân thủ nộp thuế, tình hình kê khai, nộp thuế của DN, cơ cấu tổ chức của DN, hiệu quả sản xuất kinh doanh, các năm đã thực hiện thanh tra, kiểm tra DN. Kết quả cho thấy, công tác thanh tra, kiểm tra thuế đã góp phần nâng cao dần TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 tính tuân thủ tự giác trong việc chấp hành các chính sách thuế của NNT tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc; tạo sự công bằng, bình đẳng giữa các DN thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh. Mahmoud Moeinadin và cộng sự (2014) xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế tại Iran gồm có 4 nhân tố: luật pháp, xã hội, cấu trúc hệ thống thuế, nhóm nhân tố riêng của DN.
Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến để phân tích số liệu khảo sát 239 DN. Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố đều có tác động cùng chiều đến tuân thủ thuế của DN. Trần Hoàng Thành và Phạm Khánh Nam (2017) nghiên cứu về hành vi vi phạm về thuế của các DN qua công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang. Mô hình hồi quy bội các yếu tố ảnh hưởng đến vi phạm thuế của DN gồm có 6 biến độc lập: Ngành nghề kinh doanh; Loại hình DN; Quy mô DN; Trình độ học vấn chủ DN/Người quản lý; Thời gian hoạt động; Bị xử phạt về thuế trong quá khứ.
Với kích thước mẫu là 300, kết quả cho thấy ở mức ý nghĩa 5%, vi phạm về thuế chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: Quy mô DN; Học vấn người quản lý DN; Bị xử phạt về thuế trong quá khứ. Kỳ vọng kết quả thực hiện luận văn Luận văn này hướng đến mục tiêu đánh giá tác động của hoạt động kiểm tra thuế đến tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Đồ ng thời, tı̀m hiể u nguyên nhân dẫn đế n kế t quả tác đô ̣ng đó. Trên cơ sở tı̀m hiể u nguyên nhân, tác giả kỳ vo ̣ng sẽ đưa ra được các khuyế n nghi ̣ chính sách nhằm cải thiện hoạt động kiểm tra thuế.
Từ đó nâng cao mức độ tuân thủ thuế của DN trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chương 2. KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN 2. Thuế và quản lý thuế Theo Tổng Cục thuế (2009) thì “Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào NSNN, theo đó các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước mà không gắn bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng”.
Luật quản lý thuế Việt Nam (2006) định nghĩa “Quản lý thuế là quá trình thực thi các chức năng đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quản lý hoàn thuế, giảm thuế, miễn thuế; quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về NNT, kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế”. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã chuyển đổi cơ chế quản lý thuế là tự khai, tự nộp. Đặc điểm của cơ chế này là NNT tự tính toán số tiền thuế phải nộp và tự nộp số tiền đó. NNT phải tự chịu trách nhiệm về việc kê khai và nộp thuế.
Cơ quan thuế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra công việc kê khai của NNT. Tuân thủ thuế Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tuân thủ thuế. Alm (1991) cho rằng “Tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án”. Tuân thủ thuế là mức độ NNT chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế (James và Alley, 1999).
Singh (2003) cho rằng “Tuân thủ thuế là hành động của người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và thanh toán đầy đủ các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi hành động từ cơ quan thuế”. Tuân thủ thuế theo quan điểm quản lý công bao gồm đăng ký, thông báo đến cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 quan thuế về tình trạng của NNT, nộp tờ khai thuế và tuân thủ thời hạn thanh toán theo quy định (Harris, 1989; Chow, 2004). Tuân thủ thuế yêu cầu NNT phải có kiến thức đầy đủ về thuế, đạt mức độ trung thực nhất định, có khả năng hoàn thành tờ khai thuế, các hồ sơ thuế kịp thời, chính xác và đầy đủ (Sing và Bhupalan, 2001). Theo McBarnet (2001) thì “Tuân thủ thuế được nhìn nhận theo 3 cách: tuân thủ sẵn sàng nộp thuế mà không khiếu nại; tuân thủ có điều kiện miễn cưỡng nộp tờ khai và nộp thuế; tuân thủ có sáng tạo để giảm thiểu nghĩa vụ thuế bằng cách xác định lại thu nhập và khấu trừ các khoản chi phí theo quy định của luật thuế”.
Như vậy, có thể hiểu tuân thủ thuế là việc NNT nộp tờ khai, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn. Tóm lại, tuân thủ thuế là một khái niệm rộng và có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, được tóm tắt tại bảng 2.1: Mô tả các cách tiếp cận khác nhau về tuân thủ thuế Tuân thủ thuế Cách tiếp cận kinh tế Cách tiếp cận hành vi Tuân thủ 100% quy định Tự nguyện, sẵn sàng hành động theo Góc độ tiếp cận về thuế so với thực tế, xét tinh thần và từng quy định của luật trên góc độ hẹp. thuế, xét trên góc độ rộng hơn. Quyết định Dựa trên sự hợp lý về lợi Dựa trên hành vi hợp tác giữa NNT tuân thủ ích kinh tế.