MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Israel có khí hậu Địa Trung Hải đặc trưng bởi mùa hè dài, nóng và khô cùng với mùa đông ngắn, lạnh và nhiều mưa, thay đổi theo vĩ độ và độ cao. Mùa hè ở vùng dọc bờ biển Địa Trung Hải rất ẩm nhưng tại Negev thì khô. Khí hậu được xác định bởi vị trí của Israel giữa đặc điểm khô cằn cận nhiệt đới của Ai Cập và ẩm cận nhiệt đới của Levant hay phía đông Địa Trung Hải.
Tháng 1 là tháng lạnh nhất, với nhiệt độ trung bình thay đổi từ 5 °C tới 12 °C (41 °F tới 54 °F), và tháng 8 là tháng nóng nhất ở nhiệt độ 18 °C tới 38 °C (64 °F tới 100 °F). Tại Eilat, thành phố sa mạc, trong mùa hè nhiệt độ cao nhất nước. Nhưng không khí khô khiến nó rất dễ chịu. Hơn 70% lượng mưa trung bình của đất nước rơi xuống trong khoảng giữa tháng 11 và tháng 3, đây cũng là thời gian ra hoa kết quả của cây Chà là.
Từ tháng 6 đến tháng 9 thường không có mưa. Lượng mưa phân bố không đều, giảm nhiều khi đi về hướng Nam. Tại vùng Arava, lượng mưa trung bình nhỏ hơn 50 mm hàng năm. Chiếm tới hơn nửa diện tích đất liền của đất nước, sa mạc Negev được Israel sử dụng triệt để để không lãng phí tài nguyên đất đai vốn đã ít ỏi của đất nước này.
Tới 85% diện tích của sa mạc khổng lồ này được Israel sử dụng với mục đích huấn luyện quân sự, phần còn lại là các khu dân cư, nhà máy, sân bay … Tại Israel, các tỉnh miền Bắc và ven biển có thời tiết nắng nóng vào mùa hè và mát mẻ có mưa vào mùa đông ( từ tháng 11 đến tháng 3). Các khu vực phía Nam và phía Đông có khí hậu khô cằn kiểu bán sa mạc. Lượng mưa trung bình hàng năm ở Israel là 435mm. n 2 Điều kiện khí hậu phong phú ở Isareal cho phép nền nông nghiệp phát triển một cách phong phú với hệ động thực vật đa dạng.
Isarel có tới khoảng 2380 loại thực vật khác nhau, trong đó có khoảng 160 giống đặc biệt chỉ tìm thấy ở Israel. Với mùa hè kéo dài và hầu như không có mưa, nước rất khan hiếm ở Israel. Đúng với đặc trưng của Israel, đổi mới được sinh ra từ sự cần thiết, và các nhà nghiên cứu và kỹ sư Israel đã đi tiên phong trong các ngành công nghiệp đột phá về nước.Chẳng hạn như tưới nhỏ giọt, tái chế nước thải và khử muối, từ đó định vị Israel là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này. Ngày nay, hơn 80% lượng nước thải từ các hộ gia đình ở Israel được tái chế để sử dụng trong nông nghiệp.
Thiếu hụt tài nguyên, môi trường ô nhiễm, đất nước Trung Đông này vẫn đau dầu tìm một nguồn tài nguyên sạch nhiều năm trời và họ thấy được tiềm năng ấy tại sa mạc Negev trải dài tại phía Nam đất nước. Vùng đất khô cằn không thể trồng trọt này khiến họ phải tìm một cách phát triển khác, cuối cùng người Israel đã phát minh ra hệ thống tưới nhỏ giọt để tái sử dụng nước và duy trì sư sống cho cây trồng trên vùng sa mạc trong đó có cây Chà là. Từ một đất nước sa mạc khô cằn, Israel trở thành một trong những nước có lượng suất khẩu nông nghiệp đứng đầu thế giới. Trong đó có xuất khẩu Chà là sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ và một vài nước Châu Á… Nhưng hiện nay, thế giới đang dần biến đổi khí hậu dẫn đến những biến đổi trong khu vực Trung Đông.
Đứng trước những vấn đề cấp thiết nêu trên, được sự đồng ý của ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Lương Văn Hinh, giảng viên khoa Môi Trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của khí hậu đến khả năng đậu quả của cây Chà là tại trang trại 1, Moshav Iddan, vùng Arava - Israel” n 3 1. Mục đích, yêu cầu 1. Mục đích - Đánh giá hiện trạng khí hậu tại Moshav Iddan.
- Đánh giá khả năng đậu quả của cây Chà là trong điều kiện khí hậu của Israel. - Đề ra một số giải pháp để nâng cao khả năng đậu quả cho cây Chà là. Yêu cầu - Phản ánh đúng điều kiện khí hậu tại Moshav Iddan. Đảm bảo số liệu, tài liệu đầy đủ, chính xác và khách quan.
- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị phù hợp, mang tính khả thi đối với thực tế điều kiện kinh tế - xã hội tại Moshav. Ý nghĩa - Củng cố lý thuyết kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập. - Đánh giá vấn đề thực tế về hiện trạng khí hậu tại Moshav. Theo dõi thực tế khả năng đậu quả của cây Chà là trong điều kiện khí hậu đó.
- Từ việc theo dõi thực tế trên, đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao khả năng đậu quả của cây Chà là trong các năm tới. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu khí hậu 2. Tầm quan trọng của khí hậu Khí hậu là sự tổng hợp của thời tiết, được đặc trưng bởi các giá trị trung bình thống kê và các cực trị đo được hoặc quan trắc được của các yếu tố và hiện tượng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng chục năm.
Một cách đơn giản, có thể hiểu khí hậu là trạng thái trung bình và những cực trị của thời tiết được xác định trên một khoảng thời gian đủ dài ở một nơi nào đó. Sự hiểu biết về khí hậu và môi trường là động cơ không chỉ giúp ích cho việc tạo ra những con người hành động vì hành tinh xanh và thúc đẩy các điều luật về môi trường và chống biến đổi khí hậu, mà còn giúp ích cho việc thúc đẩy các công nghệ và việc làm đảm bảo hành tinh xanh. Đó là thông điệp được Liên Hợp Quốc nhấn mạnh nhân Ngày Mẹ Trái Đất 22/4. Liên Hợp Quốc nhấn mạnh rằng một công dân toàn cầu cần phải thông hiểu những khái niệm về biến đổi khí hậu và nhận thức được mối đe dọa đối với hành tinh của chúng ta.
Tất cả mọi người đều cần được truyền đạt những kiến thức để hiểu sự cần thiết phải hành động bảo vệ môi trường. Khí hậu và một số khái niệm liên quan * Khái niệm Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định. Điều này trái ngược với khái niệm thời tiết về mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các diễn biến hiện tại hoặc tương lai gần. Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lý, địa hình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các n 5 dòng nước lưu ở các đại dương lân cận.
Khí hậu phân ra các kiểu khác nhau dựa trên các thông số chính xác về nhiệt độ và lượng mưa. * Các thành phần của hệ thống khí hậu: 1. Khí quyển: Khí quyển là thành phần quan trọng nhất của hệ thống khí hậu. Khí quyển có khối lượng khoảng 5,14 ´1018 kg, nhỏ hơn so với khối lượng của đại dương (1,39 ´1021 kg) và khối lượng của Trái đất thuần (5,98 ´1024 kg).
Thành phần cấu tạo của không khí khô chủ yếu là Nitơ (N2, chiếm 78,1%), Ôxy (O2, chiếm 20,9%) và Acgon (Ar, chiếm 0,93%). Khoảng dưới 1% khối lượng khí quyển là các chất khí có vai trò quan trọng đối với sự hấp thụ và phát xạ năng lượng bức xạ. Những khí này bao gồm hơi nước (khoảng 3,3 ´10-3tổng khối lượng khí quyển), điôxit cacbon (CO2), ôzôn (O3) và các chất khí khác như mêtan (CH4), oxit nitơ (N2O), v. Khoảng 99% khối lượng khí quyển nằm trong lớp vài chục km tính từ bề mặt, nên quan trọng nhất đối với khí hậu là lớp khí quyển tầng thấp.
Dựa trên sự phân bố nhiệt độ theo phương thẳng đứng khí quyển Trái đất có thể được chia thành bốn tầng chính. Dưới cùng là tầng đối lưu trong đó nhiệt độ giảm theo độ cao do càng xa bề mặt khí quyển càng ít bị đốt nóng bởi bức xạ nhiệt từ bề mặt. Phía trên tầng đối lưu là tầng bình lưu ở đó nhiệt độ tăng theo độ cao do trên đỉnh tầng bình lưu tồn tại tầng ôzôn có khả năng hấp thụ bức xạ sóng ngắn của mặt trời. Tiếp đến là tầng trung quyển có nhiệt độ giảm theo độ cao, và ngoài cùng là tầng nhiệt quyển trong đó nhiệt độ tăng theo độ cao.
Sự tăng nhiệt độ theo độ cao ở tầng nhiệt quyển là do các quá trình ion hóa và quang hóa các phân tử ôxy và nitơ bởi bức xạ mặt trời. Độ ẩm không khí đặc trưng cho lượng hơi nước chứa trong khí quyển. Khí quyển nhận nước từ bề mặt thông qua bốc thoát hơi và cung cấp lại nước cho bề mặt thông qua giáng thủy. Nước chảy từ đất liền ra biển qua các con sông được mang trở lại đất liền nhờ quá trình vận chuyển hơi nước trong khí n 6 quyển.
Hơi nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phản xạ bức xạ mặt trời và làm giảm phát xạ bức xạ hồng ngoại của Trái Đất. Thủy quyển và đại dương thế giới: Khí quyển chỉ chứa một lượng nước rất nhỏ so với tổng lượng nước của hệ thống khí hậu - khoảng 1/105. Hầu hết nước trên bề mặt Trái Đất chứa trong các đại dương và các tảng băng. Tổng lượng nước của Trái Đất vào khoảng 1,35´109 km3, trong đó khoảng 97% là nước biển.
Vì tất cả các đại dương hầu như liên thông với nhau nên có thể gọi đó là đại dương thế giới. Đại dương thế giới là một thành phần cơ bản của hệ thống khí hậu. Đại dương bao phủ khoảng 71% bề mặt Trái Đất. Độ sâu trung bình của đại dương thế giới là 3729m.
Đại dương có khả năng dự trữ và giải phóng nhiệt vô cùng lớn, trên các qui mô thời gian từ mùa đến hàng thế kỷ. Đại dương thế giới đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển năng lượng từ xích đạo về các vùng cực để sưởi ấm các vùng này và làm mát vùng xích đạo. Đại dương thế giới cũng là kho dự trữ nước để cung cấp hơi nước cho khí quyển tạo thành giáng thủy rơi xuống bề mặt nói chung và các vùng lục địa nói riêng.