Đặt vấn đề Bột lá thực vật không chỉ có tác dụng nâng cao khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất của vật nuôi, mà còn góp phần hạ giá thành sản phẩm. Qua nhiều nghiên cứu ở trên thế giới và trong nước, nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng khi cho vật nuôi ăn bột lá thực vật thì khả năng sinh trưởng và sản xuất cao hơn và mức độ an toàn thực phẩm cao hơn so với sử dụng các chế phẩm để tạo màu khác. Keo giậu và stylo là loại cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, ít sâu bệnh, có khả năng thích ứng rộng, chịu được khô hạn và ngập úng tạm thời, thích hợp với đất nghèo dinh dưỡng và chua, dễ nhân giống. Các loại cây này được sử dụng làm nguồn thức ăn cho gia súc chất lượng cao do giàu protein (24%).
Ngoài ra, nó còn được trồng để làm cây bóng mát cho các khu chuồng trại cũng như các công trình khác và che phủ đất và chống xói mòn. Đối với trâu bò, lợn bột lá thực vật được sử dụng cho những đối tượng này. Tuy nhiên, số liệu về việc nghiên cứu sản xuất và bổ sung bột cây Keo giậu và Stylo cho vật nuôi hiện nay còn rất ít, và đặc biệt cho thủy cầm nuôi trong điều kiện nông hộ. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của khẩu phần có bột lá keo giậu và stylo đến khả năng sinh trưởng của vịt CV Super Meat nuôi tại Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài - Xác định được ảnh hưởng của các tỷ lệ bột lá cây keo giậu và stylo đến khả năng sinh trưởng của vịt CV Super Meat. - Xác định được tỷ lệ bổ sung bột lá cây keo giậu và stylo thích hợp vào khẩu phần ăn của vịt CV Super Meat. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Cung cấp thông tin đầy đủ về ảnh hưởng của các mức bột lá keo giậu và stylo đến khả năng sinh trưởng của vịt CV Super Meat.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra mức sử dụng bột keo giậu và stylo thích hợp trong khẩu phần ăn cho vịt CV Super Meat, nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng và hạ giá thành sản phẩm. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số thông tin về cây keo giậu và stylo 2.
Các thông tin về keo giậu Keo giậu là một cây thuộc bộ họ đậu, sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit. Tên gọi “Leucaena” là danh pháp quốc tế gọi chung cho loài cây này. Ngoài ra, keo giậu còn có các tên khác như: Leucaena Glauca (Wind) Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L, Acacia glauca (L. Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên khác nhau.
Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Moxico và Tây Ban Nha gọi là Guaje; Philippine gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul; Inđonexia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là Kao haole; Trung Quốc gọi là Yin hue huan và Quần đảo Thái Bình Dương gọi là Tanggantangan…. Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng bằng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979 [7]). Hàm lượng protein thô trung bình trong BLKG biến động từ 24,0 - 34,4%, trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30% VCK. Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi (là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao (Garcia và cs, 1996 [28]).
Người ta nhận thấy, protein của lá và hạt keo giậu khá giầu các acid amin không thay thế như isoleucine, leucine, phenylalanine và histidine, còn hàm lượng lysine và methionine ở mức tương đối thấp so với một số loại thức ăn của động vật. Các acid amin chứa lưu huỳnh trong lá và hạt keo giậu ở mức thấp nhưng động vật nhai lại có khả năng tự tổng hợp những acid amin này, còn đối e 4 với động vật dạ dày đơn và gia cầm thì sự thiếu hụt các acid amin chứa lưu huỳnh phải bổ sung chúng vào trong khẩu phần (Garcia và cs, 1996 [28]). Keo giậu là loài cây giầu các chất khoáng đặc biệt là trong thân và lá, hàm lượng các chất khoáng là khá cao và có nhiều biến động, nó phụ thuộc vào các loài keo giậu và ngay trong cùng một loài cũng có sự biến động giữa các giống, các phần và các giai đoạn sinh trưởng của cây, mùa vụ, giai đoạn thu hoạch, vị trí địa lý và hàm lượng khoáng có trong đất nơi cây sinh sống. Garcia và cs (1996) [28] đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 65 báo cáo khoa học cho biết, hàm lượng trung bình các chất khoáng có trong keo giậu như sau: canxi là 1,80% (biến động từ 0,88 - 2,90%); phốt pho là 0,26% (biến động 0,14 - 1,38%); lưu huỳnh là 0,22% (biến động 0,14 - 0,29%); magie là 0,33% (biến động từ 0,17 - 0,48%); natri là 1,34% (biến động 0,22 - 2,66%); kali là 1,45% (biến động từ 0,79 - 2,11%).
Keo giậu có hàm lượng chất xơ khá cao so với các loại thức ăn ngũ cốc khác nhưng lại thấp hơn nhiều so với các loại thức ăn xanh khác. Do hàm lượng chất xơ cao nên đã hạn chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong keo giậu, đặc biệt là đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm. Hàm lượng chất xơ trong keo giậu cũng thay đổi theo giống và các phần khác nhau của cây, ngay trong cùng một loài hàm lượng chất xơ cũng khác nhau. Garcia và cs (1996) [28] cho biết, hàm lượng chất xơ thô trong hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35% (biến động từ 32 - 38% VCK), trong BLKG là 19,2% VCK (biến động từ 18,0 - 20,4% VCK).
Keo giậu là một loài cây giầu chất sắc tố mà chủ yếu là caroten và xanthophill. Caroten là tiền vitamin A và hiệu suất chuyển hóa thành vitamin A giữa các loài là khác nhau. BLKG chứa nhiều xanthophyll mà đó là nguồn cung cấp các chất sắc tố cho động vật, nó có thể được dự trữ trong các mô cơ, da và lòng đỏ trứng gia cầm. Người ta đã chứng minh được rằng, xanthophyll e 5 được dự trữ trong da, cơ và lòng đỏ trứng gia cầm có nguồn gốc từ thức ăn vì gia cầm không có khả năng tự tổng hợp nên sắc tố này.
Mầu đỏ của lòng đỏ trứng gà và mầu vàng của da gà là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng sản phẩm của gia cầm. Wood và cs (1983) [42] đã nhận thấy, hàm lượng caroten và đạt ở mức cao trong BLKG được thu hoạch ở Malawi được chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời có thể chứa tới 480mg caroten và 932mg xanthophyll/kg VCK. Các thông tin về Stylo Stylosanthes là cây thức ăn thô xanh họ đậu nhiệt đới được phát triển thành công nhất trên toàn thế giới, có ý nghĩa trong hệ thống sản xuất nông nghiệp và môi trường (Cameron và cs, 2004) [25]. Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về cỏ Stylo CIAT 184 như là một nguồn protein và chất tạo màu trong khẩu phần cho gia súc, gia cầm.
Cỏ Stylo CIAT 184 có protein thô dao động từ 12,1 - 18,1% CK trong thân lá (Sukkasem và cs, 2002) [38], và có thể lên đến 21% CK ở lá (Huy và cs, 2000) [29]. Cỏ chứa β caroten có thể chuyển đổi với hiệu quả khác nhau trong cơ thể động vật để thành vitamin A và cùng với các xanthophylls, nó có thể là một nguồn sắc tố tốt cho lòng đỏ trứng, da và chân gà. Thành phần hóa học của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo chất khô dao động từ 16,7 - 18,1% protein thô; 49,1- 61,5% xơ trung tính; 34,1- 47,3% xơ axit; 6,3 - 8,7% khoáng (Kiyothong và Wanapat, 2004) [32]. Một số kết quả phân tích cho thấy: cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày tại Lào chứa 20,2% CK; tính theo CK có 19% protein thô; 64,2% xơ trung tính; 5,5% khoáng (Phengsanvanh, 2003) [34].
Theo Chanphone Keoboualapheth và cs, 2003 [26], Stylo CIAT 184 có 22,3% CK; protein thô 19,3%; Xơ thô 30%; khoáng e 6 5,1%, Ca 0,2%; P 0,4%. Hàm lượng CK đạt từ 20,0 - 28,0%; protein thô 13,3%; xơ trung tính 16,9% tính theo CK (Toum Keopaseuht, 2004) [41]. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất của thủy cầm 2. Tỷ lệ nuôi sống Tỷ lệ nuôi sống là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng thích ứng của vật nuôi đối với điều kiện ngoại cảnh và nó có ý nghĩa lớn đối với những giống được chuyển từ vùng này sang vùng khác.
Vịt là loài thủy cầm có sức sống cao, khả năng chống chịu bệnh tốt (Nguyễn Đức Trọng và cs, 2009)[18], vịt là loài vật nuôi có khả năng thích ứng rộng rãi hơn nhờ các tiềm năng sinh học đặc biệt (Khajarern và Khajarern, 1990)[31]. Theo Hoàng Văn Tiệu và cs (1993)[14] khi nuôi vịt CV. Super M dòng trống và dòng mái ở giai đoạn vịt con 1 - 4 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 93,0 - 97,1% giai đoạn 1 - 8 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống đạt 92,0 - 97,3%. Kết quả nghiên cứu tỷ lệ nuôi sống trên vịt CV.
Super M thương phẩm đạt 98% khi nuôi đến 8 tuần tuổi (Dương Xuân Tuyển và cs, 1993)[19]. Khả năng sinh trưởng của thủy cầm Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình sinh tổng hợp Protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Để đánh giá đặc điểm về khả năng sinh trưởng người ta hay dùng các chỉ tiêu khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối, tốc độ mọc lông. *Khối lượng cơ thể Khối lượng cơ thể là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình sinh trưởng của vật nuôi.
Khối lượng cơ thể phụ thuộc vào loài, giống và dòng, các giống vịt chuyên thịt có khối lượng cơ thể lớn hơn vịt kiêm dụng và vịt chuyên trứng, vịt dòng trống có khối lượng cơ thể lớn hơn vịt dòng mái, kết e 7 quả nghiên cứu trên vịt CV. Super M2 nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên lúc 8 tuần tuổi vịt dòng trống con đực có khối lượng 2830g, con mái có khối lượng 2269g, vịt dòng mái con đực có khối lượng 2662g, con mái có khối lượng 1964g (Nguyễn Đức Trọng và cs, 2007) [16]; kết quả nghiên cứu trên vịt CV.